Bản án 01/2012/HCST ngày 17/07/2012 về yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế và lập lại phương án bồi thường GPMB theo đúng quy định pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

BẢN ÁN 01/2012/HCST NGÀY 17/07/2012 VỀ YÊU CẦU HỦY QUYẾT ĐỊNH CƯỠNG CHẾ VÀ LẬP HAI PHƯƠNG ÁN BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG THEO ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 

...

Ngày 17 tháng 7 năm 2012, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, TAND thị xã Quảng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 04/2011/HCST ngày 22 tháng 11 năm 2011 về việc "yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế số 6562/QĐ-UBND ngày 7/12/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng (Nay là thị xã Quảng Yên) và lập lại phương án bồi thường giải phóng mặt bằng theo đúng quy định của pháp luật đối với diện tích thu hồi của hộ ông Trần Mộng Lân" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐXX-ST ngày 07/6/2012 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01 ngày 19/6/2012 của TAND thị xã Quảng Yên giữa các đương sự:

1 - Người khởi kiện: Ông Trần Mộng Lân - sinh năm 1965 

Trú tại: Thôn Yên Lập Đông, Minh Thành, Yên Hưng, Quảng Ninh (nay là phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh) - có mặt tại phiên tòa.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn thụ

Địa chỉ: Số nhà 502, đường Hạ Long, phường Giếng Đáy, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) theo hợp đồng ủy quyền ngày 28/11/2011 tại trụ sở văn phòng công chứng Giếng Đáy, TP Hạ Long, Quảng Ninh) - có mặt tại phiên tòa.

2- Người bị kiện: UBND huyện Yên Hưng (Nay là UBND thị xã Quảng Yên).

Trụ sở: Phố Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn Hoàng - Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Quảng Yên. Theo văn bản ủy quyền số 1367 ngày 26/12/2011 có mặt tại phiên tòa.

3- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đinh Thị Kim (Trú tại: Thôn Yên Lập Đông, Minh Thành, Yên Hùng, Quảng Ninh (nay là phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh) - có mặt tại phiên tòa.

- Ủy ban nhân dân phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh.

Địa chỉ: Lâm Sinh 2, phường Minh Thành, thị xã Quảng yên, Quảng Ninh.

Đại diện theo pháp luật có ông: Phạm Văn Thiệu, chức vụ: Chủ tịch UBND phường Minh Thành - có mặt tại phiên tòa.

- Ban quản lý đầu tư và xây dựng công trình trọng điểm tỉnh Quảng Ninh.

Địa chỉ: Km3, phường Hồng Hải, TP Hạ Long, Quảng Ninh

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn Việt - Nhân viên văn phòng hạ tầng đô thị thuộc Ban quản lý đầu tư và xây dựng công trình trọng điểm tỉnh Quảng Ninh. Theo văn bản ủy quyền số 365 ngày 21/6/2012 - Có mặt tại phiên tòa.

5- Người làm chứng:

Ông Đinh Văn Dựng (Trú tại: khu Yên Lập Tây, Minh Thành, Quảng Yên, Quảng Ninh) - có mặt tại phiên tòa.

Ông Nguyễn Xuân Thủy (Trú tại: Thôn Yên Lập Đông, Minh Thành, Quảng Yên, Quảng Ninh) - vắng mặt tại phiên tòa.

Ông Nguyễn Thành Long (Trú tại: Khu Yên Lập Tây, Minh Thành, Quảng Yên, Quảng Ninh) - vắng mặt tại phiên tòa.

Chị Lê Thị Thu Hằng (Trú tại: Khu Yên Lập Tây, Minh Thành, Quảng Yên, Quảng Ninh) - vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Quan điểm của người khởi kiện: Năm 2011, trong dự án xây dựng tuyến đường công phục vụ thi công trường chính trị Nguyễn Văn Cừ và trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm thành niên tại xã Minh Thành, huyện Yên Hưng (nay là phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên), đã lấy vào tổng diện tích đất nông nghiệp của gia đình ông Lân là 2278,8m2 gồm 8 thửa 118, 119, 120, 129, 130, 131, 132, 133 thuộc bản đồ số 01 bản đồ GPMB.

Trong quá trình UBND huyện làm thủ tục thu hồi đất, giải phóng mặt bằng gia đình ông chỉ nhận được một phương án dự thảo đề ngày 22/7/2011. 

Ngày 22/11/2011 và ngày 5/12/2011 ông có đơn khiếu nại gửi UBND huyện Yên Hưng, nhưng chưa được giải quyết. 

Ngày 08/12/2011 ông nhận được quyết định số 6562/QĐ-UBND ngày 07/12/2011 của UBND huyện Yên Hưng quyết định về cưỡng chế thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng tuyến đường công phục vụ thi công dự án trường chính trị Nguyễn Văn Cừ và trung tâm dạy nghề giới thiệu việc làm thanh niên tại xã Minh Thành, Yên Hưng với lý do "Không phối hợp bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án không chấp nhận phương án bồi thường và có hành vi cản trở thi công".

Không đồng ý với nội dung đền bù và cưỡng chế thu hồi đất của Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng (Nay là UBND thị xã Quảng Yên), ông Trần Mộng Lân đã khởi kiện vụ án hành chính đến TAND thị xã Quảng Yên với yêu cầu sau:

1- Buộc UBND huyện Yên Hưng thu hồi và hủy bỏ quyết định số 6562/QĐ-UBND ngày 07/12/2011.

2- Buộc UBND huyện Yên Hưng phải chỉ đạo phòng ban chức năng lập phương án và trình UBND huyện Yên Hưng phê duyện theo đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành đối với diện tích đất bị thu hồi của gia đình ông Trần Mộng Lân.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Nguyễn Văn Thụ (đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện) trình bày: UBND huyện Yên Hưng ban hành quyết định số 6562/QĐ-UBND ngày 07/12/2011 quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với gia đình ông là trái với các quy định của pháp luật, vì ngay từ khi có dự án đến nay thì các cơ quan chức năng đã không nghiêm túc trong việc thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng. Gia đình ông chưa hề nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đã đựơc phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền (là UBND huyện Yên Hưng) mà chỉ nhận được quyền phương án dự thảo ngày 22/7/2011 hết sức sơ sài, không đầy đủ, làm sai lệch nguồn gốc sử dụng đất của gia đình ông. Mặt khắc, ông đã khiếu nại yêu cầu UBND huyện Yên Hưng giải quyết các yêu cầu của gia đình đảm bảo đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành khi thu hồi đất GPMB. Trong khi việc thu hồi đất đang có khiếu nại, UBND huyện Yên Hưng vẫn chưa giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà UBND huyện Yên Hưng ban hành quyết định cưỡng chế nói trên là trái với các quy định của pháp luật.

Tại phương án dự thảo cho rằng đất của gia đình ông là đất khai hoang không thể hiện trên bản đồ địa chính, do đó không được bồi thường 100% mà chỉ hỗ trợ với tỷ lệ 30% đơn giá bồi thường đất nông nghiệp, ngoài ra không có bất kỳ khoản hỗ trợ nào khác, việc bồi thường trên là không thỏa đáng vì: Diện tích đất 2278,8m2 gồm 8 thửa 118, 119, 120, 129, 130, 131, 132, 133 nằm trong 2.500m2 đất gia đình ông đã khai hoang, phục hóa tại khu Đồng Sung, Minh Thành để trồng lúa nước từ năm 1989 và thực địa được thể hiện tại tờ bản đồ số 01 bản đồ GPMB (Tại bản đồ này có xác nhận: Đất khai hoang không thể hiện trên bản đồ địa chính). Từ khi khai hoang, phục hóa diện tích đất nói trên gia đình ông sử dụng ổn định, liên tục vào mục đích nông nghiệp, không có tranh chấp, có ranh giới rõ ràng, không lấn chiếm vi phạm quy họach sử dụng được giao theo tiêu chuẩn và chưa được UBND xã Minh Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Quan điểm của người bị kiện: 

1- Dự án xây dựng tuyến đường công vụ thi công Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ và Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm thanh niên là dự án phục vụ lợi ích công cộng, thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 38 Luật đất đai năm 2003.

Trình tự giải phóng mặt bằng đối với trường hợp ông Trần Mộng Lân được thực hiện theo đúng quy định hiện hành. Do chủ hộ không chấp hành bàn giao mặt bằng, UBND thị xã đã ban hành quyết định số 6562/QĐ-UBND cưỡng chế thu hồi đất theo đúng quy định tại điều 32 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ. Yêu cầu của ông Trần Mộng Lân đòi hủy bỏ quyết định cưỡng chế là không có căn cứ. 

2- Yêu cầu của ông Trần Mộng Lân đòi UBND thị xã lập lại phương án bồi thường 100% giá trị đất và tất cả các khoản hỗ trợ là không có căn cứ để thực hiện bởi các lý do sau:

- Đối với việc bồi thường đất: Các văn bản, giấy tờ và hồ sơ địa chính đã chứng minh: Ông Lân không có các loại giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng các thửa đất bị thu hồi.

- Các thửa đất trên do các hộ ông Vũ Văn Quang, Nguyễn Xuân Thủy, Đinh Văn Dựng sử dụng trong giai đoạn từ năm 1195-1997, là đất tự khai hoang không theo quy họach được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đến gia đoạn năm 2008-2010 các hộ trên sang nhượng lại cho hộ ông Trần Mộng Lân.

- Các thửa đất bị thu hồi là ngoài hạn mức tiêu chuẩn được giao cho chủ hộ (Hộ ông Lân đã được giao đất nông nghiệp theo hạn mức tiêu chuẩn của xã Minh Thành và đã được UBND huyện Yên Hưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất được giao nằm ngoài vùng dự án).

Tại điều 3 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ tài nguyên và môi trường "Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất" quy định: "điều kiện để người sử dụng đất được bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và các điều 44, 45, 46 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ"

Đối chiếu các quy định trên thì hộ ông Trần Mộng Lân không thuộc đối tượng được bồi thường mà chỉ được hỗ trợ về đất 30%.

3- Về các khoản hỗ trợ khác như: Hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề và việc làm, hỗ trợ đất nông nghiệp xen trong khu dân sự; Hộ ông Trần Mộng lân đã được giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 (Các thửa đất được giao nằm ngoài vùng dự án và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), các thửa đất bị thu hồi là đất ngoài hạn mức tiêu chuẩn, không đủ điều kiện được bồi thường. Do đó, hộ ông Lân không thuộc đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, đất nông nghiệp xen khu dân cư theo quy định tại điều 20, 21, 22 Nghị định 69/2009/NĐ-CP và điều 14, 15, 16 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ tài nguyên và môi trường.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị Kim có quan điểm như nội dung đơn khởi kiện của ông Trần Mộng Lân. Đại diện UBND phường Minh Thành trình bày: Về các trình tự, thủ tục về phổ biến trên phương tiện truyền thanh của xã, phường, niêm yết...chủ trương thu hồi đất, đền bù, chi trả đền bù đều đã được thực hiện đầy đủ tại ủy ban nhân dân phường Minh Thành và nhà văn háo các thôn Yên Lập Đông, Yên Lập Tây, Khe Cát...nơi có đất thu hồi thực hiện dự án trên, theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ diện tích đất thu hồi thực hiện dự án đường Công vụ và hộ ông Lân không thể hiện trên bản đồ địa chính, không có trong hồ sơ địa chính lưu trữ tại phường. Nguồn gốc đất trên hộ của ông Trần Mộng Lân là đất khai hoang từ năm 1995-1997 của các ông Nguyễn Xuân Thủy, Vũ Văn Quang ở khu Yên Lập Đông và ông Đinh Văn Dựng ở khu Yên Lập Tây đã nhượng lại hộ ông Lân từ năm 2008-2010 (việc mua bán này các hộ tự thực hiện với nhau, không có hợp đồng chuyển nhượng theo quy định và các hộ cũng không cung cấp được các giấy tờ liên quan xác định thời gian sử dụng đất). Diện tích đất thu hồi để thực hiện dự án của hộ ông Trần Mộng Lân không phải là đất xen kẽ trong khu dân cư vì hiện trạng các thửa đất trên nằm tiếp giáp với các thửa đất nông nghiệp khác.

Đại diện của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trọng điểm tỉnh Quảng Ninh trình bày: Nguồn vốn chi trả bồi thường từ nguồn vốn đầu tư của dự án (Vốn ngân sách nhà nước), chủ đầu tư đã chuyển kinh phí và phối hợp với Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Quảng Yên chi trả theo đúng quyết định phê duyệt của UBND huyện Yên Hưng (Nay là thị xã Quảng Yên). Trường hợp hộ ông Trần Mộng Lân đã được mời nhiều lần nhưng không nhận tiền bồi thường.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, đương sự trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, người khởi kiện ông Trần Mộng Lân và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người bị kiện có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của ông Trần Mộng Lân không có căn cứ nên không chấp nhận. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tạo điều kiện cho các đương sự đối thoại nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về những nội dung cần giải quyết của vụ án.

Về trình tự, thủ tục thu ban hành quyết định cưỡng chế:

Theo chứng cứ người bị kiện cung cấp: Sau khi có Quyết định 3955 ngày 22/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, ngày 11/2/2011 của Ủy ban nhân dân huyện yên Hưng đã có quyết định số 157/QĐ-UBND phê duyệt Mặt bằng tuyến đường công vụ phục vụ thi công dự án trên. Ngày 10/5/2011 ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng đã có thông báo số 93/TB-UBND thu hồi đất của 50 hộ dân phục vụ công tác giải phóng mặt bằng, tàhnh lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tổ chức họp các hộ dân có đất bị thu hồi công khai quy họach dự án đầu tư và triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án trên, phát tờ mẫu kê khai cho người bụ thu hồi đất kê khai9 đất và tài sản trên đất, tổ công tác phối hợp với UBND xã Minh Thành tiến hành kiểm đếm, thống kê khối lượng tài sản, công trình kiến trúc và cây trồng có trên đất bị thu hồi tại hiện trường để lập phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt nằng thực hiện dự án đối với từng hộ dân có đất thu hồi, sau đó báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện thẩm định, lấy ý kiến về phương án bồi thường và tái định cư, đồng thời giao và niêm yết công khai hồ sơ chi tiết về phương án bồi thường, hỗ trợ của từng hộ. hết thời gian trên không có đơn khiếu nại hay ý kiến phản đối gì từ phía các hộ dân có đất thu hồi nằm trong dự án, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn chỉnh và gửi phương án đã hoàn chỉnh đến cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ biên bản thẩm định và kết quả  niêm yết và lấy ý kiến về phương án dự thảo, UBND huyện Yên Hưng ban hành Quyết định số 4736 ngày 16/8/2011 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đợt 2 cho 16 hộ dân xã Minh Thành để thực hiện dự án trên (Trong đó có hộ Trần Mộng Lân). Song song với việc giao quyết định phê duyệt kèm theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến từng hộ gia đình cá nhân có nhà, đất bị thu hồi thì UBND xã Minh Thành tiến hành niêm yết công khai phương án bồi thường chi tiết của từng hộ dân, quyết định phê duyệt và bàn giao giấy mời nhận tiền tại UBND phường và nhà văn hóa các thôn có đất thu hồi thực hiện dự án trên các ngày 27/8/2011, 15/9/2011 và 20/9/2011. Ngày 28/11/2011 UBND huyện Yên Hưng ra quyết định thu hồi đất số 6430/QĐ-UBND và UBND xã Minh Thành sao gửi quyết định này đến từng hộ dân có đất bị thu hồi nằm trong dự án.

Tại phiên tòa ông Trần Mộng Lân đã có lời khai bổ sung: Vào hồi 08 giờ ngày 10/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Thành ông Lân có tham gia họp nghe công khai quy họach sự án đầu tư và triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án trên. Ngày 27/8/2011 ông Lân cũng có mặt tại nhà văn hóa thôn Yên Lập Tây. Trong thời gian UBND huyện Yên Hưng làm thủ tục thu hồi đất, giải phóng mặt bằng thì hộ gia đình ông Lân có mặt tại địa phương và trên phương tiện truyền thông của xã thường xuyên đưa những thông tin liên quan đến việc thu hồi đất của các hộ dân nằm trong dự án. Đồng thời ông cũng đã nhận được các giấy mời lên nhận tiền do người khác đưa đến nhưng vì đơn giá bồi thường thấp nên không không lên nhận tiền.

Và tại Biên bản được lập vào ngày 27/8/2011 tại thôn Yên Lập Tây, xã Minh Thành có nội dung: "Trong quá trình tổ chức giao giấy mời nhận tiền và hồ sơ phương án bồi thường, biên bản kiểm kê cho 23 hộ dân đã được UBND huyện phê duyệt thì có 02 hộ là: hộ ông Lân và hộ ông Nguyễn Văn Luận không nhận với lý do đơn giá bồi thường thấp". Việc ông Lân không nhận tiền còn thể hiện tại Biên bản làm việc vào hồi 08 giờ 30' ngày 7/12/2011 tại UBND xã Minh Thành. Như vậy, thể hiện: ông Lân không nhận phương án bồi thường đã được phê duyệt chứ không phải ban đền bù giải phóng mặt bằng không giao phương án trên cho ông Trần Mộng Lân.

Từ các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở khẳng định: Trên cơ sở quyết định thu hồi đất đối với hộ ông Trần Mộng lân đã đựơc thực hiện đầy đủ thủ tục thông báo trước cho người có đất bị thu hồi trên thực địa, đúng thẩm quyền, đúng với quy họach sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt, công khai phương án đền bù GPMB được phê duyệt, tổ chức đền bù đã thực hiện chi trả tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục cần thiết bảo đảm quyền lợi của người bị thu hồi đất được quy định tại Điều 39 Luật đất đai năm 2003 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), Điều 29, 30 và 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ. Nhưng do hộ ông Trần Mộng Lân không chấp hành quyết định thu hồi đất, không lên nhận tiền mặc dù đã được mời và vận động thuyết phục nhiều lần. Chính vì vậy,  UBND huyện Yên Hưng đã yêu cầu chuyển tiền bồi thường của chủ hộ vào tài khoản ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Hưng và do thời hạn giao đất đã hết, do hộ ông Lân không chấp nhận bàn giao mặt bằng, UBND huyện Yên Hưng đã ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất số 6562/QĐ-UBND ngày 7/12/2011 là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 39 Luật đất đai 2003; Điều 32 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ.

Mặt khác theo quy định của pháp luật thì người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại. Thực tế sau khi nhận được đơn khiếu nại của hộ ông Lân vào ngày 22/11/2011 và ngày 05/12/2011, ban đền bù giải phóng mặt bằng đã 02 lần trả lời đơn khiếu nại của ông Lân. Từ các chứng cứ và sự phân tích trên hội đồng xét xử thấy rằng: Yêu cầu của người khởi kiện yêu cầu đòi hủy bỏ quyết định cưỡng chế số 6562/QĐ-UBND ngày 07/12/2011 của UBND huyện Yên Hưng là không có căn cứ để chấp nhận. 

Căn cứ ban hành Quyết định cưỡng chế: Các văn bản UBND huyện Yên Hưng làm căn cứ pháp lý ban hành gồm: Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003; Luật đất đai ngày 26/11/2003, luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004, Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009; Quyết định số 499/2010/QĐ-UBND ngày 11/2/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh. Tại thời điểm ban hành quyết định bị khiếu kiện các văn bản trên đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên khi thực hiện thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng, trong biên bản niêm yết phương án bồi thường không có sự tham gia của đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất bị thu hồi theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 30 Nghị định 69/2009/NĐ-CP, không thông báo kết quả thẩm định cho người bị thu hồi đất. Và tại các Quyết định thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất UBND huyện Yên Hưng đã không áp dụng cụ thể về điểm, khoản, Điều của từng văn bản đó là chưa đầy đủ vì tùy từng thời điểm ban hành các Quyết định có những điều luật, điểm, khoản quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng và cưỡng chế thu hồi đất đã hết hiệu lực. Nhưng do việc bồi thường và thực hiện dự án đã xong, những thiếu sót trên không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nội dung của quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế, UBND huyện Yên Hưng cần rút kinh nghiệm trong khi áp dụng các văn bản pháp luật khi ban hành các Quyết định về đền bù, giải phóng mặt bằng và thực hiện đầy đủ các thủ tục trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.

Nội dung phương án đền bù giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất: Căn cứ vào lời khai của người khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ do người khởi kiện cung cấp thể hiện: Nguồn gốc diện tích đất thu hồi của hộ ông Trần Mộng lân để làm dự án trên được khai hoang từ năm 1989 chứ không phải do chuyển nhượng mà có, nhưng trong đơn đề nghị ngày 27/8/2011 của ông Lân gửi Ban đền bù giải phóng mặt bằng lại khẳn định diện tích đất thu hồi được khai hoang từ năm 1990. Mặt khác, sau khi Tòa án tạo điều kiện cho hai bên đương sự thực hiện đối thoại vào ngày 09/4/2012 thì phía người khởi kiện cung cấp cho Tòa án một giấy xác nhận có tiêu đề và ngày, tháng, năm của ông Định Văn Dựng (Giấy xác nhận này không có giá trị chứng minh) có nội dung: Nguồn gốc thửa đất của ông Lân bị thu hồi để thực hiện dự án do ông Dựng và ông Lân tự khai hoang từ năm 1989 và ơng Dựng nhượng lại hết cho ông Lân vào năm 2001. Còn lý do tại sao UBND phường ông Dựng khai nhượng lại đất cho ông Lân vào năm 1997? khi thì ông Dựng trình bày vì có bực tức với ông Lân, tại phiên tòa lại khai do thời điểm chuyển nhượng đất cho ông Lân với số tiền thấp quá, nay sợ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Lân nên ông khẳng định là ông đã nhượng lại đất cho ông Lân năm 2001. Lời khai trên của ông Dựng không có cơ sở để chấp nhận. Hơn nữa, tại bản tự kê khai ngày 14/6/2011 về đất và tài sản trên đất phục vụ cho công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án trên ông Trần Mộng Lân đã kê khai đúng số diện tích đất, tài sản trên đất đã thu hồi, nhưng về thời gian sử dụng đất ông Lân không kê khai cụ thể vào thời điểm nào. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía người khởei kiện không cung cấp được cho Tòa án văn bản, giấy tờ nào thể hiện nguồn gốc sử dụng đất hợp pháp hay văn bản xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định và mục đích sử dụng đất theo quy định tại Điều 3 Khoản 2 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Mặt khác tại phiên tòa hôm nay Đại diện uBND phường Minh Thành có lời khai nhận: Năm 1989 thực trạng khu Đống Sung vẫn là khu đầm ngập nước mặn. Đến năm 1997 tiến hành đắp đê ngăn mặn và phài đến năm 1999 mới hợp long. Thời điểm này mới có nước ngọt có điều kiện cải tạo trở thành đất nông nghiệp được.

Tại Biên bản lấy lời khai của đại diện theo ủy quyền của người khởei kiện và tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên thể hiện: Trong thời gian sử dụng diện tích đất nông nghiệp trên hộ các ông Nguyễn Xuân Thủy, Vũ Văn Quang, Đinh Văn Dựng và sau cùng là ông Trần Mộng Lân không thực hiện nghĩa vụ về tài chính đối với đất. Tại phiên tòa ông Lân và ông Dựng cũng thừa nhận điều này.

Trong khi đó tại bản chứng nhận nhà, đất, tài sản trên đất 7/2011 trong phương án đền bù được phê duyệt của Ủy ban nhân dân xã Minh Thành xác định nguồn gốc sử dụng đất "Tự khai hoang không thể hiện trên bản đồ địa chính". Chứng cứ do ông người bị kiện cung cấp: Tại báo cáo số 01 ngày 6/1/2012 của Ủy ban nhân dân xã Minh Thành gửi Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng về nguồn gốc sử dụng đất đối với hộ ông Trần Mông lân như sau: Toàn bộ diện tích đất thu hồi để thực hiện dự án trên đối với hộ ông Trần Mộng Lân (thôn Yên Lập Đông) là đất khai hoang từ năm 1995 và năm 1997 đựơc sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp của các ông Nguyễn Xuân Thủy, Vũ Văn Quang ở thôn Yên Lập Đông và ông Đinh Văn Dựng ở thôn Yên Lập Tây xã Minh Thành. Đến năm 2008 và năm 2010 đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Mộng Lân và được sử dụng ổn định cho đến nay. Việc mua bán này các hộ tự thực hiện với nhau, không có hợp đồng chuyển nhượng theo quy định và các hộ Nguyễn Xuân Thủy, Vũ Văn Quang và Đinh Văn Dựng không cung cấp được giấy tờ gì liên quan. (Có phiếu lấy ý kiến của các ông Thủy, Quang, Dựng). Bên cạnh đó về hạn mức giao đất sản xuất nông nghiệp hộ ông Trần Mộng Lân được UBND huyện Yên Hưng giao đất và cấp giấy CNQSD đất để sản xuất nông nghiệp từ ngày 02/12/1996 tổng diện tích được giao 1.195m2 (đủ hạn mức theo khẩu tại thời điểm thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ). Các thửa đất được giao nằm ngoài vùng dự án và hộ ông Trần Mộng Lân là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp - điều này cũng đã được người khởi kiện thừa nhận. Từ sự mâu thuẫn trong lời khai và trong các chứng cứ để xác định nguồn gốc đất do người khởi kiện khai và cung cấp; qua các chứng cứ do người bị kiện cung cấp, lời khai người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các thửa đất của hộ ông Trần Mộng Lân đã thu hồi phục vụ thi công dự án không thể hiện trên bản đồ địa chính (đo năm 1994), do các đối tượng tự khai hoang từ năm 1995 và 1997, không có quy họach, không thuộc đất được Nhà nước giao để sản xuất nông nghiệp và nguồn gốc sử dụng đất đã được xác nhận lập phương án bồi thường đảm bảo đúng quy định. Như vậy, UBND huyện Yên Hưng đã xác định hộ ông Trần Mộng Lân không được bồi thường về đất là phù hợp với quy định tại Điều 43 Luật đất đai; Khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 16 và Khoản 2 Điều 23 Nghị định 69/2009/NĐ-CP; Điều 7 và khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP; Điều 44, 45 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Điều 16 Khoản 2 Quyết định 499/2010/QĐ-UBND ngày 1/2/2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh v/v: "Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tài định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh". Mặc dù không thuộc đối tượng được bồi thường về đất nhưng UBND huyện Yên Hưng đã lập phương án bồi thường bằng 30% giá đất bị thu hồi đối với chi phí đầu tư vào đất, công sức tôn tạo đất là đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi và đúng quy định về chính sách bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất.

Hơn nữa, theo sơ đồ thửa đất do người bị kiện cung cấp và tại biên bản xác minh thực địa của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên thì hộ ông Trần Mộng Lân bị thu hồi 08 thửa đất bao gồm các thửa 118, 119, 120, 129, 130, 131, 132 và 133 tờ bản đồ GPMB số 01, hiện trạng các thửa đất trên nằm tiếp giáp với các thửa đất nông nghiệp khác. Vì vậy, các thửa đất ông Trần Mộng Lân đang sử dụng bị thu hồi không nằm trong khu dân cư nông thôn, không tiếo giáp với thửa đất có nhà ở nên không đủ điều kiện được hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân sự. Các thửa đất bị thu hồi là đất ngoài hạn mức, không đủ điều kiện được bồi thường. Do đó hộ ông Lân không đựơc hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư theo quy định tại Điều 20, 21, 22 Nghị định 69/2009/NĐ-CP và Điều 14, 15 Thông tư số 14 ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường. 

Đối với nội dung đền bù về tài sản trên đất trong phương án đền bù được phê duyệt hộ ông Trần Mộng Lân không có ý kiến gì Hội đồng xét xử không đề cập.

Qua phân tích và đánh giá các chứng trên Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của ông Trần Mộng Lân "Buộc Ủy ban nhân dân huyện Yên Hưng phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành đối với diện tích đất bị thu hồi của gia đình ông" là không có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Buộc ông Trần Mộng Lân phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điều 31; Điều 163; Điều 164; Điều 176 Luật tố tụng hành chính ; Điều 3 Nghị quyết 56/2010/QH12 ngày 24/1/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; Điều 4 Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Điều 6, 39, 43, 44 Luật đất đai năm 2003 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009), Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 16, Điều 23 khoản 2, Điều 29, 30, 31, 32 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ; Điều 7 và khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 Điều 8 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP; khoản 2 Điều 3, Điều 44, 45 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

Điều 27 Luật tố tụng hành chính, Pháp lệnh số 10/UBTVQH ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội  quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Mộng Lân về việc:

1-Buộc UBND huyện Yên Hưng thu hồi và hủy bỏ quyết định số 6562/QĐ-UBND ngày 07/12/2011,

2-Buộc UBND huyện Yên Hưng phải chỉ đạo phòng ban chức năng lập phương án và trình UBND huyện Yên Hưng phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành đối với diện tích đất bị thu hồi của gia đình ông Trần Mộng Lân.

Án phí: Ông Trần Mộng Lân phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) phí hành chính sơ thẩm (Nhưng được trừ vào 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Trần Mộng Lân đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006764 ngày 22/12/2011 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Hưng (Nay là Chi cục THA thị xã Quảng Yên) - ông Trần Mộng Lân đã nộp đủ tiền án phí Hành chính sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


481
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2012/HCST ngày 17/07/2012 về yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế và lập lại phương án bồi thường GPMB theo đúng quy định pháp luật

Số hiệu:01/2012/HC-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Quảng Yên - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:17/07/2012
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về