Bản án 01/2016/LĐPT ngày 17/08/2016 về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 01/2016/LĐPT NGÀY 17/08/2016 VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Ngày 17 tháng 8 năm 2016, tại Hội trường Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm  công khai vụ án Lao động thụ lý số: 01/2016/TLPT-LĐ  ngày 30/6/2016 về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và  trợ cấp  khi chấm dứt hợp đồng lao động ”.

Do bản án sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 24/05/2016 của TAND thành phố Đ bị nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử  số: 01/2016/LĐPT -QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2016 giữa các bên đương sự:

Nguyên đơn:  Bà Vũ Thị Kiều G, sinh năm: 1978; địa  chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Q, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G:

Ông Nguyễn Duy P - Công tác tại Trường Đại học Luật H. Có mặt

Bị  đơn:  Hội  Liên  Hiệp  Phụ  Nữ  thành  phố  Đ,  tỉnh  Q;  địa  chỉ:  Số  03  -đường H, thành phố Đ, tỉnh Q.

Người đại diện theo pháp luật:  Bà Nguyễn Hồng H - Chủ  tịch HLHPN, Uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Mỹ V -Phó chủ  tịch HLHPN tham gia phiên toà (Theo giấy uỷ quyền ngày 15/8/2016) Có mặt.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2015, được sửa đổi, bổ sung ngày 27/3/2015,  ý kiến tại  các phiên hòa giải 16/6/2015 và ngày 21/3/2016 cũng như ý kiến tại biên bản lấy lời khai ngày 25/02/2016, nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G trình bày:

Ngày 15/11/2006 bà Vũ Thị Kiều G được nhận vào làm việc tại Hội liên hiệp Phụ nữ thành phố Đ (viết  tắt: Hội  LHPN thành phố Đ) theo đề án của Thị  ủy (thể  hiện  tại  Thông  báo  số  169  ngày  21/12/2006,  Thông báo số 170 ngày15/01/2007).  Sau  03  tháng  thử  việc,  ngày  15/02/2007 bà G ký hợp đồng lao động có thời hạn 01 năm với người sử dụng lao động, thời  gian tập sự  01 năm, hết thời hạn hợp đồng bà G tiếp tục ký hợp đồng lao động từ ngày  01/02/2009 đến ngày 31/12/2010. Từ  năm  2011  đến  năm  2013,  bà  G  ký  hợp  đồng  lao  động  từng  năm một. Ngày 31/12/2013, hết thời hạn hợp đồng, bà G trực tiếp gặp thường trực Hội LHPN thành phố Đ để đề xuất nguyện vọng tiếp tục làm việc và được Chủ tịch Hội LHPN thành phố Đ đồng ý, nhưng không nói đến việc ký kết hợp đồng. Cũng trong thời gian đó, bà G tiếp tục làm việc, được nhận lương, nhận thẻ bảo hiểm y tế và đóng bảo hiểm xã hội cho đến tháng 4/2014 tại Hội LHPN thành phố Đ.

Ngày 21/4/2014, bà G nhận được Thông báo của Hội LHPN thành phố Đ về việc  chấm  dứt  thời gian làm  việc. Ngày  05/5/2014, tại cuộc họp cơ quan, Chủ tịch Hội LHPN thành phố Đ  thông báo với toàn cơ quan về việc không giao việc, không trả lương, không đóng bảo hiểm  xã hội và thu thẻ bảo hiểm y tế, với lý do:

Bà G không ký hợp đồng lao động 06 tháng kể từ tháng 01 đến tháng 6/2014.

Bà Vũ Thị Kiều G cho rằng, Hội LHPN thành phố Đ chấm dứt hợp đồng lao động với bà là trái quy định của pháp luật, cụ thể: Hội LHPN thành phố Đ vi phạm thời gian báo trước khi chấm  dứt hợp đồng, bà G yêu cầu Tòa án tuyên bố việc chấm dứt hợp đồng lao động của Hội  LHPN thành phố Đ bồi thường cho bà Vũ Thị Kiều G theo quy định tại  khoản 1, khoản 2 và  khoản  5  Điều  42;  Điều  48  Bộ luật lao động với tổng số tiền 64.952.866 đống, gồm các khoản sau:

- Trợ cấp thôi việc: 7 năm (thời gian  làm  việc) x ½  tháng lương x 3.070.000 đồng = 10.747(5).000 đồng,

- Tiền  lương  do  không  được  làm  việc  (từ  ngày  01/5/2014  đến ngày 01/4/2015): 11 tháng x 3.070.000 đồng = 33.770.000 đồng,

- Tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc (từ ngày 01/5/2014  đến ngày  01/4/2015):  11  tháng  x  16%  x  3.070.000  đồng  = 5.403.200 đồng,

- Tiền lương 02 tháng theo hợp đồng lao động: 02 tháng x 3.070.000 đồng = 6.140.000 đồng,

- Bồi thường do vi phạm quy định về thời hạn báo trước (35 ngày):  35 ngày x 102.333 đồng = 3.581.666 đồng,

- Tiền nâng bậc lương (lên  3.0) kể từ tháng 02/2014: 0,33  x  1.150.000 đồng/tháng x 14 tháng = 5.313.000 đồng.

Tại văn bản số 08/HPN-BTV ngày 15/4/2015 và số 11/CV-TL ngày 21/3/2016  cũng  như  ý  kiến  tại  các  phiên hòa giải ngày 16/6/2015 và  ngày 21/3/2016,  bị đơn là Hội LHPN thành phố Đ có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Kiều G như sau:

Từ ngày 15/11/2006 đến ngày 31/12/2013, bà Vũ Thị Kiều G làm việc liên tục tại Hội LHPN  thành phố Đ theo các hợp đồng lao động có thời hạn trong thời gian làm việc bà G hưởng  đầy đủ quyền lợi của người lao động theo quy định của pháp luật lao động.

Ngày 20/02/2014, Thành ủy Đ ban hành Thông báo số 358-TB/TU về chủ trương hợp đồng  cán bộ năm 2014, Thông báo có nội dung: “Đối với 02 cán bộ hợp  đồng  làm  việc  tại  cơ  quan UBMT thành phố và Hội LHPN thành phố, sau khi có thông báo kết quả thi tuyển công  chức khối Đảng, Mặt trận,các đoàn thể của tỉnh năm 2014 thì chấm dứt hợp đồng”.

Ngày 13/3/2014,Thường trực Hội LHPN thành phố Đ họp phiên mở rộng (bà Vũ Thị Kiều G  có tham gia).Tại phiên họp,Chủ tịch Hội LHPN thành phố đã trực tiếp thông báo chủ trương hợp  đồng cán bộ của Hội LHPN thành phố năm 2014 theo tinh thần Thông báo số 358-TB/TU,và  thông báo việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Vũ Thị Kiều G, cụ thể: Hội LHPN thành phố sẽ chấm dứt hợp đồng lao động với bà G, sau khi có kết quả thi tuyển công chức.

Ngày 31/3/2014, Hội đồng tuyển dụng Tỉnh ủy Q thông báo kết quả điểm kỳ thi tuyển công chức, ngày 21/4/2014, Hội LHPN thành phố ban hành Thông báo số 03/TB-BNV về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà G.

Với căn cứ nói trên, Hội LHPN thành phố Đ chấm dứt hợp đồng lao động với bà Vũ Thị  Kiều G là đúng  trình tự, thủ  tục theo quy định của Bộ luật lao động, nên  các  yêu  cầu  của  bà  Vũ Thị Kiều G như: Tiền lương do không được làm việc: 33.770.000 đồng; tiền bảo hiểm xã hội,  bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc: 5.403.200 đồng; tiền lương 02  tháng  theo hợp đồng lao động: 6.140.000 đồng; bồi thường do vi phạm quy định về thời hạn báo  trước:  3.581.666 đồng và tiền nâng bậc lương: 5.313.000 đồng không được chấp nhận.

Hội LHPN thành phố Đ chấp nhận yêu cầu chi trả trợ cấp thôi việc cho bà Vũ Thị Kiều G theo quy định tại khoản 1, Điều 48 của Bộ luật lao động với số tiền 10.474.000 đồng.

- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Bà Vũ Thị Kiều G làm việc liên tục tại Hội LHPN thành phố Đ, từ ngày 15/11/2006 đến ngày  31/12/2013,theo các  hợp  đồng  lao  động  có  thời  hạn; năm 2013,  bà G ký kết hợp đồng  lao động với Hội LHPN thành phố Đ với thời hạn 01 năm (từ ngày 10/01/2013 đến ngày  31/12/2013).  Hết thời hạn hợp đồng,Hội LHPN thành phố Đ với bà G không ký kết hợp đồng  mới nhưng bà G vẫn tiếp tục làm đến hết ngày 31/5/2014 mới nghỉ  việc,theo quy định tại  Điều 22 Bộ luật lao động hợp đồng có thời hạn được ký kết năm 2013 giữa bà G với Hội  LHPN thành phố Đ trở thành hợp đồng không xác định thời hạn.

Hội LHPN thành phố Đ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà G không thuộc 01 trong 04 trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 38 của Bộ luật lao động.

Ngày 21/4/2014,Hội LHPN thành phố Đ ra thông báo số 03 về việc chấm dứt hợp đồng lao  động với bà G, ngày 01/5/2014 Hội LHPN thành phố Đ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao  động với bà G là vi phạm thời hạn báo trước (35 ngày) theo quy định tại khoản 2, Điều 38 của Bộ luật lao động.

Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Kiều G.

Tại bản án số 01/2016/LĐ–ST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đ đã áp dụng khoản 1, Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 15; Điều 16; điểm  b, khoản 1, khoản  2,  Điều  22;  khoản  10, Điều  36; điểm  c,  khoản  1,khoản  2, Điều 38 và Điều 48 của Bộ luật lao động, xử:

- Chấp nhận xem xét nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa của bà Vũ Thị Kiều G.

- Chấp nhận  một  phần  yêu  cầu  khởi  kiện  của  bà  Vũ  Thị  Kiều  G,  buộc  Hội LHPN thành phố  Đ,  tỉnh Q phải trả  tiền  trợ cấp  thôi việc cho bà Vũ Thị  Kiều G  số tiền 10.747.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự trong vụ án.

Ngày 04/6/2016 nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G có đơn kháng cáo với  nội dung:

- Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà G tuyên việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Hội LHPN thành phố Đ là trái pháp luật.

- Tòa sơ thẩm cho rằng Hội LHPN thành phố Đ không vi phạm thời gian thông báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động là không đúng với thực tế.

- Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu các khoản bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không đúng và yêu cầu:

Trả tiền lương 11 tháng tôi không được làm việc (từ ngày 01/5/2014 cho đến ngày 01/4/2015  là 11  tháng): 11 x 3.070.000đ = 33.770.000đ  (1) (khoản 1  Điều 42 BLLĐ).

Trả  bảo  hiểm  xã  hội  trong  thời  gian  tôi  không  được  làm  việc  (khoản 1 Điều 42 BLLĐ): 11 tháng x 18% x 3.070.000đ = 6.078.600đ (2)

Trả bảo hiểm y tế do cơ quan không đóng trong thời gian tôi không được làm việc (khoản 1 Điều 42 BLLĐ): 3% x 11 x 3.070.000đ = 2.333.100đ (3)

Trả ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao  động (khoản 1 Điều  42 BLLĐ): 2 x 3.070.000đ = 6.140.000đ (4)

Trả tiền bồi thường do vi phạm quy định về thời hạn báo trước (khoản  5 Điều 42 BLLĐ): 35 ngày x 102.333đ = 3.581.666đ (6)

Trả khoản tiền tăng thêm do được nâng lương cho tôi: 0,33 x 1.150.000đ x 14 tháng = 5.313.000đ (7)

Tổng  cộng:  57.216.366đ  (năm mươi bảy triệu hai trăm mười sáu ngàn ba trăm sáu mươi sáu đồng).

Lý do của kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử thiếu khách quan, áp dụng không đúng quy  định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà G; cụ thể:

- Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Hội LHPN Đ chấm dứt hợp đồng lao động căn  cứ Thông  báo  số 358-TB/TU ngày  20/2/2014 của Thành ủy Đ theo khoản 10 Điều 36, điểm c khoản 1 Điều 38 của Bộ luật lao động là không đúng.

- Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Hội LHPN thành phố Đ không vi phạm thời hạn báo trước  với  lý do ngày 13/3/2014 thường trực Hội LHPN thành phố Đ đã họp phiên mở rộng và thông báo nội dung công văn số 358-TB/TU ngày 20/2/2014 của Thành Ủy Đ và cho rằng đó là “Báo  cho người lao động biết trước" để tính thời điểm chấm dứt hợp đồng 47 ngày là không  vi phạm  .  Thực tế ngày 21/4/2014 Hội LHPN thành phố Đ đã ra thông báo số 03/TB-BTV về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà G, theo bà G là vi phạm thời hạn báo trước.

-  Tòa sơ thẩm cho rằng Hội LHPN thành phố Đ không nâng bậc lương cho bà G với lý do không làm kiểm điểm theo quy định  của  khoản  2,  Điều  2 thông tư 08/2013/TT-BNV của Bộ nội vụ, là không đúng tinh thần nội dung Thông tư.

Quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tại phiên toà phúc thẩm:Toà án nhân dân tỉnh đã thụ lý thông báo, thông báo bổ sung thụ lý vụ án theo trình  tự. Thẩm  phán,thư ký Toà án thực hiện đúng đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định; quyền và nghĩa vụ  của những người tham gia tố tụng được đảm  bảo.  (Trong quá trình giải quyết vụ án).Về mặt  nội dung vụ án thấy rằng: HLHPN thành phố Đ đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lý do trường  hợp bất khả kháng là không đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều  38.  Đề nghị Hội  đồng  xét xử xem xét sửa bản án sơ thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ giải quyết chế độ khi chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định của pháp luật (theo quy định tại Điều 42 BLLĐ). 

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm  tra  tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Tòa án nhân dân thành phố Đ xác định thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp "Về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động" thuộc thẩm quyền Tòa án thành phố Đ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 24/5/2016, nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G làm đơn kháng cáo vào ngày 04/6/2016 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định pháp luật.

Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G: Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của  bà G tuyên việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Hội LHPN Đ đối với bà G là trái quy định của pháp luật ; Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về mặt chủ trương Hợp đồng lao động theo Quy định 68-QĐ/TV ngày 25/4/2002 của  Ban  thường vụ thị uỷ về hợp đồng cán bộ phường xã; Quy định số 01-QĐ/TU1  ngày 11/9/2012 của  Ban thường vụ thành ủy Đ, về việc sửa đổi, bổ sung Quy định 68-QĐ/TU của Ban thường vụ thành uỷ Đ ghi rõ: " Khi hết thời hạn hợp  đồng làm việc nếu có nguyện vọng tiếp tục làm  việc  thì  được xem xét để tiếp tục hợp đồng; ưu tiên tham gia dự tuyển vào công chức,viên  chức ở các phòng, ban, ngành thành phố và phường khi có nhu cầu. Việc chấm dứt, thanh lý hợp đồng thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động ". Về thẩm quyền ký kết Hợp  đồng lao động, tại công văn Số 170TB/TU ngày 15/01/2007 của Ban thường vụ thị ủy Đ, thì  kể từ ngày 01/01/2007 việc ký kết hợp đồng, giải quyết chế độ và quản lý điều  hành  trực  tiếp cán bộ hợp đồng giao cho đơn vị được thường vụ đồng ý cho hợp đồng, UBND thị xã cân đối ngân sách bổ sung nguồn kinh phí cho các phòng, địa phương đang có cán bộ hợp đồng (Kèm theo danh sách  có  bà Vũ Thị Kiều G HĐLĐ tại HLHPN thành phố Đ)

Từ các cơ sở nêu trên, ngày 15/11/2006 bà Vũ Thị Kiều G được nhận vào làm việc tại Hội  liên hiệp Phụ nữ thành phố Đ. Sau 03 tháng thử việc, ngày 15/02/2007  bà  G  ký  hợp  đồng  lao  động có thời hạn 01 năm với người sử dụng lao động, thời gian tập sự 01 năm, hết thời hạn hợp đồng bà G tiếp tục ký hợp đồng lao động từ ngày 01/02/2009 đến ngày 31/12/2010. Từ  năm  2011 đến năm 2013, bà G ký  hợp đồng lao động từng năm một, HLHPN đã giải quyết chế độ đầy đủ bà G không có khiếu nại gì. Ngày 31/12/2013, hết thời hạn hợp đồng, bà G trực tiếp gặp thường trực Hội LHPN thành  phố Đ để đề xuất nguyện vọng tiếp  tục làm việc nhưng không thoả thuận ký hợp đồng được. Cũng trong thời gian  đó, bà G tiếp  tục làm việc, được nhận lương, nhận  thẻ  bảo  hiểm y tế và đóng  bảo hiểm xã hội cho đến hết tháng 4/2014 tại Hội LHPN thành phố Đ. Theo quy định tại  điểm b, khoản 1, Điều 22 Bộ luật lao động, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 01/01/2014 Hội LHPN thành phố Đông Hà với bà G phải ký hợp  đồng  lao  động mới; nhưng Hội LHPN thành phố Đ với bà G không  ký  kết  hợp  đồng lao  động mới trong thời hạn nói trên, nên hợp đồng  lao  động số 01/HĐLĐ/PN ngày 10/01/2013 trở thành hợp đồng  lao  động không  xác định  thời  hạn. Do  đó, khi chấm  dứt  hợp đồng lao động, Hội LHPN thành phố Đ phải căn cứ vào quy định ở khoản 1, Điều 38 để chấm  dứt hợp  đồng  và phải  báo trước cho bà  Vũ Thị Kiều G biết trước ít nhất 45 ngày, theo điểm a, khoản 2, Điều 38 của Bộ luật lao động .

Theo thông báo số 358 TB/TU ngày 20/02/2014 của Thành uỷ Đ về  chủ trương cán bộ hợp đồng năm 2014 có ghi:  " Đối  với  02 cán bộ hợp đồng làm  việc tại cơ quan mặt trận thành phố và Hội liên hiệp phụ nữ thành phố, sau khi có thông báo  kết  quả  thi  tuyển công  chức  khối  Đảng,  Mặt  trận, các  đoàn thể của tỉnh năm 2014 thì chấm dứt hợp đồng". Ngày 13/3/2014, Thường trực HLHPN thành phố Đ họp Thường  trực mở rộng,  phiên  họp có  nội  dung: Thông  báo về chủ  trương hợp đồng cán bộ năm 2014 theo thông  báo số  358/TB-TU  của  BTV Thành  ủy về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà G sau khi có kết quả thi  tuyển công  chức năm 2014.  Ngày  31/3/2014 Hội đồng tuyển  dụng Tỉnh Ủy  Q Thông báo kết  quả  điểm kỳ thi tuyển công chức cơ quan Đảng, Mặt trận tổ quốc và  các  đoàn  thể  chính  trị -xã  hội.  Ngày  21/4/2014, Hội  LHPN thành  phố  ban  hành thông  báo  số  03/TB-TU về  việc  chấm dứt hợp đồng lao động với bà Vũ Thị kiều G , Nhân  viên  hợp  đồng, Thông  báo  có  nội  dung:  “Hội  cũng  đã  thống nhất  tiếp  tục hợp đồng với bà Vũ Thị Kiều  Giang  06  tháng  (từ  tháng  01/2014  đến tháng  06/2014)  nhằm  tạo  điều  kiện  để bà có thời gian xin việc nơi khác và bàn giao công việc , ngày 01/5/2014 bà Vũ Thị Kiều  G  chính  thức  chấm  dứt  làm  việc tại Hội LHPN thành phố. Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Đ căn cứ vào thông báo số 358 /TB-TU ngày 20/2/2014 của thành uỷ Đông Hà cho rằng đây là trường  hợp"  bất  khả  kháng "HLHPN thành phố Đ đơn phương chấm dứt  HĐLĐ  là  đúng pháp luật (Theo  quy  định  tại  khoản 10  Điều 36 và  điểm c khoản 1  Điều  38  BLLĐ)  .Hội  đồng  xét  xử thấy rằng: trường hợp bất khả  kháng  theo  điểm  c  khoản  1  Bộ  luật  lao  động  2012  và  các tài liệu hướng dẫn, qui định:  “Quyền  đơn  phương  chấm  dứt  hợp đồng  lao động của người  sử dụng  lao động  tại  điểm  c,  khoản  1,  Điều  38  của Bộ luật lao động quy định như sau:  “ 2.Lý do bất khả  kháng thuộc một  trong  các trường hợp sau đây: a.  Do địch họa, dịch bệnh; b. Di  dời hoặc  thu  hẹp  sản  xuất,  kinh  doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Theo cách  giải  thích  trên  thì  HLHPN  thành  phố Đ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với bà Vũ Thị  Kiều  G  là  không  đúng quy  định  tại điểm c khoản 1 Điều 38. Còn khoản 10 Điều 36 là dẫn chiếu trở lại điều 38 khi đơn phương chấm dứt  hợp  đồng  lao  động  đúng  quy  định đối với người lao động thì chấm  dứt hợp đồng lao  động. Các  quy  định  của  Thị  uỷ, Thành  uỷ  nêu  trên hướng dẫn khi chấm dứt, thanh lý hợp đồng thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động, Thông báo số  358 TB-TU  để  biết  thực  hiện việc  ký  kết,  chấm  dứt  HĐLĐ  theo  quy định của pháp luật, nhưng HLHPN lại không thực hiện đúng tinh thần này. Hết hạn hợp  đồng  HLHPN vẫn để người  lao  động  ở lại  làm công việc  cũ,  trả  lương  và  nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, theo quy định . Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của  HLHPN  không  đúng quy định ở khoản 1 Điều 38 BLLĐ là chấm  dứt  HĐLĐ trái pháp luật theo  qui định  tại  điều 41  BLLĐ. Theo quy định tại  Điều 42 người  sử dụng  lao  động  HLHPN  đơn  phương  chấm  dứt  HĐLĐ trái pháp luật phải có nghĩa vụ:

- Trả tiền  trợ  cấp  thôi  việc (Theo quy định tại khoản 2 Điều 42, Điều  48 BLLĐ) toà án cấp  sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện, các đương sự không có kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật .

- Trả tiền lương trong những ngày không được làm việc (Từ ngày 01/5/2014 nghỉ việc đến  ngày khởi  kiện  17/3/2015  theo khoản 1 Điều 42 ): 11 tháng x 3.070.000, đồng = 33.770.000, đồng,

- Trả ít nhất  hai tháng lương theo hợp đồng lao động  (Theo khoản 1 Điều 42 BLLĐ ): 2 tháng x 3.070.000, đồng = 6.078.000 đồng,

- Trả tiền bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế trong những ngày không được làm việc (Theo khoản 2 Điều 42 BLLĐ ):

+  BHXH:  11 tháng x 18% x 3.070.000, đồng = 6.078.600, đồng

+ BHYT:  11 tháng x 3%  x 3.070.000, đồng = 2.333.100, đồng.

Với  tổng  số  tiền: 48.321.700 đồng. Cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về những yêu cầu nêu trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Không chấp nhận vi phạm thời hạn báo trước vì điều luật quy định: đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng quy định ở khoản 1 Điều 38  thì phải báo trước cho người lao động theo khoản 2 Điều 38 BLLĐ nếu vi phạm thời hạn báo trước thì phải bồi thường những ngày không báo trước.Trong trường hợp này  người khởi kiện yêu cầu bồi thường những ngày không báo trước trong  lúc người sử  dụng  lao động vi phạm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ở khoản 1 là không hợp lý.

Về yêu cầu bồi thường nâng bậc lương theo định  kỳ:  Đây  không phải là  hậu quả  của  việc  chấm  dứt  HĐLĐ trái pháp luật ; tuy nhiên trong quá trình  giải  quyết vụ  án  bà  G  cho  rằng HLHPN không nâng  lương cho bà là không đúng quy định của pháp luật;Hội đồng xét  xử xét  thấy: Theo quy định tại khoản 2, Điều 2 của Thông  tư  08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ nội vụ; Quy  định số 68/QĐ-TU ngày  25/4/2002 của Thị ủy Đ (nay Thành ủy Đ) thì đến thời điểm nâng lương theo  định  kỳ,  bà  G  phải nộp bản tự kiểm điểm trong thời gian giữ bậc lương cho Hội LHPN thành phố  Đ. Trên cơ sở bản tự kiểm điểm đó thì Hội LHPN thành phố Đ có trách nhiệm đánh giá mức hoàn thành nhiệm vụ, làm cơ sở cho việc nâng bậc lương của bà G. Tại  phiên toà hôm nay  không  có  tài  liệu và cơ sở đánh giá hoàn thành nhiệm vụ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích trên cần chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp  nhận  một  phần kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị Kiều G sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí:

-  Án  phí lao động sơ thẩm: Hội liên hiệp phụ nữ thành  phố  Đ  phải  chịu án phí lao động sơ thẩm trên số tiền phải có nghĩa  vụ: Tiền trợ cấp  thôi  việc: 10.747.000 đồng; tiền lương trong những ngày không được làm việc, tiền ít nhất hai tháng lương tối thiểu, tiền BHXH,BHYT trong những ngày không được làm việc: 48.321.700,đồng

- Bà Vũ Thị Kiều G không phải chịu án phí lao động phúc thẩm,

Vì các lẽ trên, áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 BLTTDS.

QUYẾT ĐỊNH

1.  Chấp  hận một phần kháng cáo của nguyên đơn Bà Vũ Thị Kiều G: Sửa bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều  218 BLTTDS,  Điều  15;  Điều  16;  khoản 2 Điều  22; Khoản  10,  Điều  36; điểm c khoản  1, Điều 38, Điều 41,  Điều 42 Điều 48 BLLĐ xử:

Tuyên bố việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động của Hội  liên  hiệp phụ  nữ  Thành  phố Đ là trái  quy  định  của  pháp  luật. Hội  liên  hiệp  phụ  nữ Thành phố Đ có nghĩa vụ giải quyết chế độ cho bà Vũ Thị Kiều G: Tiền trợ cấp thôi việc (Đã  được cấp sơ xem xét: 10.747.000, đồng).  Tiền lương trong những ngày không được làm việc: 33.770.000, đồng ; tiền hai tháng lương tối thiểu theo Hợp đồng lao động: 6.140.000 đồng; Tiền  Bảo  hiểm  xã  hội: 6.078.600,đồng; Bảo hiểm y tế: 2.333.100 đồng  (Tổng số tiền Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Đ phải giải  quyết cho bà Vũ Thị  Kiều G là: 59.068.700, đồng.  (Năm  mươi chín triệu không trăm sáu tám ngàn bảy trăm đồng )

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành  xong tất cả các  khoản  tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn  phải  thi  hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy  định, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

Trong trường hợp bản  án, quyết định được  thi hành  theo quy định tại  Điều 2 Luật  thi  hành  án dân sự thì  người được thi hành  án  dân  sự,  người  phải  thi  hành  án dân  sự  có  quyền  thoả  thuận thi hành,  quyền  yêu  cầu  thi  hành  án,  tự  nguyện  thi hành  án,  hoặc  bị cưỡng chế thi hành theo quy định  tại  các  Điều  6,7 Luật  thi  hành án dân sự.

Về án phí:

Sửa án  phí sơ thẩm: Hội Liên  hiệp phụ nữ thành phố Đ phải chịu 1.772.000 đồng án phí lao động sơ thẩm.

Bà Vũ Thị Kiều G không phải chịu án phí lao động phúc thẩm Y các phần còn lại của bản án sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


204
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về