Bản án 01/2017/KDTM-ST ngày 13/07/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 01/2017/KDTM-ST NGÀY 13/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 13 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2017/TLST-KDTM ngày 10 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn :

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Huy K; Chức vụ: Tổng giám đốc. Địa chỉ: số 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn G; Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Tiền Giang. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 03-01-2017.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Trần Song Hạ Q; Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Chợ Gạo – Chi nhánh Tiền Giang. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 11-4- 2017; (có mặt)

2. Bị đơn :

- Ông Võ Văn B, sinh năm 1968; (vắng mặt)

- Bà Phạm Thị Thu N, sinh năm 1972; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Bình Phú Quới, xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06/02/2017 nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Song Hạ Q đều trình bày:

Ngày 21-9-2015, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) – Chi nhánh Tiền Giang- Phòng giao dịch Chợ Gạo và ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N ký kết hợp đồng tín dụng số 00821-00219. Theo hợp đồng, ông B, bà N vay của Ngân hàng S số tiền 35.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, phương thức trả nợ theo hình thức vốn lãi trả góp đều hàng ngày, ngày đáo hạn là 17-6- 2016, lãi suất 2,5%/tháng. Trong quá trình vay, ông B, bà N trả vốn, lãi đến ngày 10-3-2016 với số tiền vốn là 22.049.000 đồng, tiền lãi là 4.964.000 đồng. Sau đó, ông B, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nữa. Do bà N, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên nay phía ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N, ông B phải trả số tiền vốn là 12.951.000 đồng và tiền lãi là 2.911.000 đồng, tổng cộng là 15.862.000 đồng; ông B, bà N còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 00821-00219 nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Văn B và bà Phạm Thị Thu N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Trần Song Hạ Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Phía bị đơn là ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

 [1] Xét quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N thuộc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”; ông B, bà N cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo. Do đó, căn cứ khoản 1, 5 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

[2] Bị đơn, ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt ông B, bà N.

 [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng, hợp đồng tín dụng số 00821-00219 lập ngày 21-9-2015 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Tiền Giang – Phòng Giao dịch Chợ Gạo và ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N thực tế đã phát sinh hiệu lực. Ông B, bà N đã nhận tiền giải ngân từ ngân hàng và cũng đã thực hiện một phần nghĩa vụ trả nợ cho phía ngân hàng với số tiền vốn, lãi tính đến ngày 10-3- 2016 là 27.013.000 đồng. Theo hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết, bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo phương thức góp đều vốn, lãi hàng ngày cho bên cho vay, tuy nhiên phía ông B, bà N đã không thực hiện đúng thỏa thuận, phía ngân hàng cũng đã nhiều lần cho ông B, bà N cam kết trả nợ nhưng vẫn không thực hiện nên đã vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay. Do đó, phía ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B, bà N trả số tiền nợ vốn là 12.951.000 đồng và tiền lãi là 2.911.000 đồng là có căn cứ. Ông B, bà N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần tham gia hòa giải và công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không chứng minh đã trả cho ngân hàng bao nhiêu tiền là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, căn cứ vào mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên thì số tiền mà phía ngân hàng yêu cầu ông B, bà N phải trả là phù hợp thực tế, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng được ký kết giữa hai bên thì ông B, bà N phải chịu lãi trên số tiền chậm trả cho đến khi hoàn tất việc trả nợ vốn, do đó ông B, bà N còn phải tiếp tục chịu lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

 [4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông B, bà N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1,5 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 4 Luật Thương mại; Điều 471, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Võ Văn B và bà Phạm Thị Thu N trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Tiền Giang – Phòng Giao dịch Chợ Gạo số tiền vốn là 12.951.000 đồng và tiền lãi là 2.911.000 đồng, tổng cộng là 15.862.000 (mười lăm triệu tám trăm sáu mươi hai ngàn) đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng ông B, bà N còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 00821-00219 và phụ lục hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Tiền Giang – Phòng Giao dịch Chợ Gạo và ông B, bà N cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng.

2. Về án phí:

Ông Võ Văn B và bà Phạm Thị Thu N phải chịu 3.000.000 (ba triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh Tiền Giang – Phòng Giao dịch Chợ Gạo 397.000 (ba trăm chín mươi bảy nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 35129 ngày 05-4-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Võ Văn B, bà Phạm Thị Thu N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


108
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2017/KDTM-ST ngày 13/07/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:01/2017/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Gạo - Tiền Giang
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:13/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về