Bản án 01/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 01/2018/DS-ST NGÀY 05/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 05 tháng 2 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 243/2017/TLST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2017/QĐXX-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VNT. Trụ sở chính: phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trịnh T T H, sinh năm 199; Địa chỉ: phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng (theo giấy ủy quyền số 411/2017/UQ-GĐK-TDTD, ngày 01/10/2017) ( Có mặt).

2. Bị đơn: Ông L Đ V, sinh năm 197; Địa chỉ: Nguyễn Phước Nguyên, phường An Khê, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà P T N; Địa chỉ: NguyễnPhước Nguyên, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện:

Ngày 29/8/2014, ông  L Đ V có ký  Hợp đồng  tín dụng số 20141125-802002-0003 với Ngân hàng TMCP VNT vay số tiền 21.000.000 đồng, với lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân.

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, ông L Đ V có trách nhiệm thanh toán số tiền26.658.000 đồng (gồm 21.000.000 đồng nợ gốc và 5.658.000 đồng nợ lãi) trả chậm trong 12 tháng. Trong đó, 11 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.206.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.392.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 01/01/2015.

Thực hiện Hợp đồng, ông L Đ V đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng và thanh toán cho Ngân hàng 01 kỳ với số tiền 2.206.000đ. Kể từ ngày 09/01/2015 đến nay ông L Đ V đã không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào nữa, dù ngân hàngđã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Vì vậy Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L Đ V phải trả toàn bộ số tiền còn nợ là 24.452.000đ (gồm nợ gốc 19.712.750đ và nợ lãi4.739.250đ).

Lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án của ông L Đ V thể hiện:

Ngày 29/8/2014, tôi có ký Hợp đồng tín dụng số 20141125-802002-0003với Ngân hàng TMCP VNT vay số tiền 21.000.000 đồng, với lãi suất3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân.

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, tôi có trách nhiệm thanh toán số tiền26.658.000 đồng (gồm 21.000.000 đồng nợ gốc và 5.658.000 đồng nợ lãi) trả chậm trong 12 tháng. Trong đó, 11 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.206.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.392.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 01/01/2015.

Thực hiện Hợp đồng, tôi đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng và thanh toáncho Ngân hàng 01 kỳ với số tiền 2.206.000đ.

Nay tôi xác định còn nợ của Ngân hàng TMCP VNT số tiền 24.452.000đ (gồm nợ gốc 19.712.750đ và nợ lãi 4.739.250đ) nay do hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn nên không thể trả một lần số tiền còn nợ cho Ngân hàng được. Vì vậy tôi  xin trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ.

Lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tranh tụng tại phiên tòa của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà P T N thể hiện:

Tôi thống nhất với phần trình bày của đại diện nguyên đơn và chồng tôi là ông L Đ V. Nay do hoàn cảnh của gia đình chúng tôi khó khăn nên không thể trả một lần số tiền còn nợ cho Ngân hàng được. Vì vậy vợ chồng tôi xin trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNT yêu cầu bị đơn ông  L Đ V trả số tiền nợ vay gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng  số20141125-802002-0003, ngày 29/8/2014. Ông L Đ V có  địa chỉ  cư trú  tại Nguyễn Phước Nguyên, phường An Khê, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng. Do đó căn cứ vào Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầukhởi kiện của Ngân hàng TMCP VNT nộp đúng trình tự thủ tục, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông L Đ V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xử vắng mặt bị đơn.

[ 2] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào lời khai các bên có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận: Ngày 29/8/2014, ông L Đ V có ký Hợp đồng tín dụng số 20141125-802002-0003 với Ngân hàng TMCP VNT vay số tiền 21.000.000 đồng, với lãi suất 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, ông L Đ V có trách nhiệm thanh toán số tiền26.658.000 đồng (gồm 21.000.000 đồng nợ gốc và 5.658.000 đồng nợ lãi) trả chậm trong 12 tháng. Trong đó, 11 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.206.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.392.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 01/01/2015.

Đây là Hợp đồng vay tín chấp không có đảm bảo bằng tài sản, phù hợp về nội dung không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội nên được thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Việt đã không thực hiện dầy đủ nghĩa vụ thanh toán, có thể ông V mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng 01 kỳ vớisố tiền 2.206.000đ. Tính đến nay, ông V còn nợ Ngân hàng TMCP VTN số tiền 24.452.000đ (gồm nợ gốc 19.712.750đ và nợ lãi 4.739.250đ).

Như vây, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng, là người có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông V và bà N thừa nhận nợ tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần số tiền còn nợ cho Ngân hàng mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ, nhưng không được phía Ngân hàng đồng ý.

Do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông L Đ V phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP VNT số tiền còn nợ cả gốc và lãi là 24.452.000 đồng là phù hợp với quy định tại các: Điều 305, 471, 474, 476 của Bộ luật dân sự 2005.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Ngânhàng TMCP VNT không yêu cầu ông Việt phải trả tiền lãi phạt chậm trả theo Hợp đồng tín dụng đã ký, đây là sự tự nguyện của đương sự nên HĐXX không xem xét.

[ 3] Về án phí: Vì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ánphí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là: 24.452.000đ x  5% = 1.222.600 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều: 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều: 305, 471, 474, 476 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”của nguyên đơn Ngân hàng TMCP VNT đối với bị đơn ông L Đ V.

Buộc ông L Đ V phải trả cho Ngân hàng TMCP VNT số tiền24.452.000đ (gồm nợ gốc 19.712.750đ và nợ lãi 4.739.250đ).

Kể từ ngày bên có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông L Đ V phải chịu 1.222.600 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP VNT số tiền 611.000đồng tiền tạm ứng án phí mà đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP VNT là bà Lê Thị Thanh Trình đã nộp theo biên lai thu số 0007470, ngày 28/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


115
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/DS-ST ngày 05/02/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:01/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về