Bản án 01/2018/HC-ST ngày 24/01/2018 về khiếu kiện quyết định hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất và yêu cầu bồi thường

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 01/2018/HC-ST NGÀY 24/01/2018 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG 

Ngày 24 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở  phiên  tòa  xét xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  hành  chính  thụ  lý  số 02/2017/TLST-HC ngày 20 tháng 10 năm 2017 về việc: “Khiếu kiện quyết định hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và yêu cầu bồi thường” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2017/QĐXXST-HC ngày 14 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1.  Người khởi kiện: Ông Vũ Thanh H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: 699, tổ 4, ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện:

Ông Đỗ Đức C, sinh năm 1949. Địa chỉ: số 1178, tổ 3, ấp S, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/3/2015). (có mặt)

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ: số 01, khu Ph, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện hợp pháp của người bị kiện:

Ông Ngô Thế A - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L là người đại diện theo pháp luật.

Ông Nguyễn Tấn H - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 4587/UQ-UBND ngày 01/8/2016). (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ban Quản lý Rừng phòng hộ L.

Địa chỉ: Tổ 17, khu Ph, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Anh T - Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ L là người đại diện theo pháp luật.

Ông Vũ Thanh B - Phó giám đốc Ban Quản lý Rừng phòng hộ L là người đại  diện  theo  ủy  quyền.Văn  bản  ủy  quyền  số  91/GUQ-  BQLRPLT  ngày 28/8/2015. (vắng mặt)

2. Công ty cổ phần môi trường T.(vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1957 và ông Nguyễn Hùng C, sinh năm1977 là người đại diện theo pháp luật. (vắng mặt)

3. Ông Vũ Văn L, sinh năm 1950. (vắng mặt)

4. Chị Vũ Thị Thùy Tr, sinh năm 1980. (vắng mặt)

5. Anh Vũ Minh H, sinh năm 1987. (vắng mặt)

6. Chị Vũ Thị Ánh Tr, sinh năm 1992. (vắng mặt)

7. Chị Vũ Thị Hồng Â, sinh năm 1997. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 4, ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2015, đơn khởi kiện bổ sung ngày03 tháng 4 năm 2015 của người khởi kiện ông Vũ Thanh H và quá trình tố tụng do ông Đỗ Đức C đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Vũ Thanh H được Ban Quản lý Rừng phòng hộ L giao cho quản lý, sử dụng 11.024 m2 đất vào sản xuất nông nghiệp từ ngày 30/9/2004.

Ngày 31/12/2014, ông H nhận được Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L về việc hỗ trợ hộ ông H số tiền số 193.320.000 đồng cho diện tích đất 11.024 m2, ông H đã nhận tiền hỗ trợ và kýbàn  giao  mặt  bằng  nhưng  do  việc  hỗ  trợ  trên  là  chưa  thỏa  đáng  nên  ngày20/3/2015 ông H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L, đến ngày 03/4/2015 ông H có đơn khởi kiện bổ sung đề nghị căn cứ Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND ngày 05/4/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Lbồi thường thêm cho ông H số tiền 1.113.020.000 đồng bao gồm:

1. Hỗ trợ 25% diện tích đất bị thu hồi 6.444m2 x 15.000 đồng/m2 x (25%) =96.660.000 đồng.

2. Trợ cấp gạo theo điểm a khoản 1 điều 5 Quyết định số 20/2010/QĐ- UBND ngày 05/4/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai là 30kg gạo cho 01 nhân khẩu trong 6 tháng, hộ ông H có 06 khẩu, tương đương với số tiền 06 khẩu x30kg/tháng = 180kg x 6 tháng = 1.080kg x 15.000 đồng/kg = 16.200.000 đồng.

3. Thưởng chấp hành tốt việc thu hồi đất theo quy định tại Điều 14 Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND là 8.000.000 đồng.

4. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND là 1,5 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi thực tế là 11.024m2 x 90.000 đồng/m2 = 992.160.000 đồng.

Tại phiên tòa ông C rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền trợ cấp gạo là 16.200.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền ông H yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện L phải bồi thường là 1.096.820.000 đồng. Ông C bổ sung yêu cầu hủy Quyết định số 643/QĐ-UBND ngày 03/02/2016 và Quyết định  số 1799/QĐ- UBND ngày 11/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện L.

- Quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện L do ông Nguyễn Tấn H, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:

Ngày 07/10/2010, Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện L phối hợp Ủy ban nhân dân xã B và Công ty TNHH T là chủ đầu tư tiến hành kiểm kê phần tài sản, cây trồng trên thửa đất số 61, tờ bản đồ số 20 với diện tích thu hồi 11.024m2 đất do Ban Quản lý Rừng phòng hộ L quản lý, người trực tiếp canh tác trên đất là ông Vũ Thanh H.

Ngày 19/10/2010, Ủy ban nhân dân xã B xác nhận thửa đất số 61, tờ bản đồ số 20 diện tích 11.024m2 do Ban Quản lý Rừng phòng hộ L quản lý. Đất giao khoán cho hộ ông H vào ngày 30/9/2004 để trồng, chăm sóc, bảo vệ phòng chống cháy và sản xuất nông nghiệp. Đất sử dụng ổn định không tranh chấp được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L thẩm tra và thống nhất nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B.

Ngày 18/11/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 3071/QĐ-UBND về việc giao đất cho Công ty TNHH T (nay là Công ty cổ phần môi trường T) thực hiện dự án Nhà máy xử lý chất thải công nghiệp và nguy hại tại xã B, huyện L. Quyết định đã thu hồi 101.757,0m2  đất tại xã B giao cho Công ty TNHH T thực hiện dự án.

Ngày 11/6/2014, Ban Quản lý Rừng phòng hộ L có văn bản số 273/CV- BQL xác nhận các trường hợp chưa lập lại hợp đồng do đang thực hiện phúc tra chuyển đổi hợp đồng theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Chính Phủ và các trường hợp nhận khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng sản xuất thì đủ điều kiện hỗ trợ ổn định đời số ng và sản xuất theo Điều 5 Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/5/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ; khoản 3 Điều 5 Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện L đã lập phương án hỗ trợ ổn định đời số ng và sản xuất, hình thức hỗ trợ bằng tiền với mức hỗ trợ 50% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi 6.444 m2  x 60.000 đồng x 50% =193.320.000 đồng cho ông Vũ Thanh H và được Ủy ban  nhân  dân  huyện  L  phê  duyệt  tại  Quyết  định  số  3008/QĐ-UBND  ngày 27/6/2014 là đúng quy định, ông H đã nhận tiền hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư thi công dự án không có khiếu nại gì.

Ngày  18/9/2015,  Ủy  ban  nhân  dân  tỉnh  Đồng  Nai  có  văn  bản  số 7548/UBND-ĐT về việc xử lý vướng mắc dự án khu xử lý chất thải do Công ty TNHH T thực hiện dự án tại xã B, theo đó Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã chấp  thuận  cho  Uỷ  ban  nhân  dân  huyện  L  căn  cứ  Điều  31  Quyết  định  số 54/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai để hỗ trợ bổ sung bằng 25% giá trị bồi thường đất cho các hộ gia đình trong đó có hộ của ông Vũ Thanh H.

Ngày  03/02/2016,  Ủy  ban  nhân  dân  huyện  L  ban  hành  Quyết  định  số 643/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ khác cho các hộ dân trong đó có hộ của ông H là 6.444m2 x 60.000 đồng x 25% = 96.660.000 đồng.

Căn cứ Điều 15 Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Ngày 08/02/2016, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh L phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, Ban ấp 7 và phổ biến trên hệ thống truyền thanh của xã.

Ngày  11/5/2016,  Ủy  ban  nhân  dân  huyện  L  ban  hành  Quyết  định  số 1799/QĐ-UBND về việc phê duyệt hỗ trợ khác cho hộ ông H.

Ngày 22/02/2016, 07/3/2016 và 14/4/2016, Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh L có văn bản số 81/CV-TTPTQĐ; văn bản số 121/CV- TTPTQĐ và văn bản số 265/CV-TTPTQĐ về việc đề nghị Công ty TNHH T chuyển tiền bồi thường dự án đầu tư Nhà máy xử lý rác tại xã B nhưng đến nay Công ty vẫn chưa chuyển tiền cho các hộ dân.

Việc ông Vũ Thanh H yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện L phải bồi thường là không có cơ sở.

- Quá trình tố tụng ông Vũ Thanh B là người đại diện theo ủy quyền củaBan Quản lý Rừng phòng hộ L trình bày:

Diện tích đất của ông Vũ Thanh H đang sử dụng là đất công do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai giao cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ L quản lý tại Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 25/9/1978.

Ông H được Ban Quản lý Rừng phòng hộ L đồng ý giao khoán để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo Nghị định  số  01/1995  NĐ-CP  ngày  04/01/1995  của  Chính  Phủ  tại  Hợp  đồng  số 100/HĐK ngày 30/9/2004.

Theo thông báo số 5140/TB-UBND ngày 28/6/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư nhà máy xử lý rác thải tại xã B, Ban Quản lý Rừng phòng hộ L đã bàn giao xong diện tích thu hồi cho chủ đầu tư theo đúng quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo quy định tại văn bản số 3023/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 11/8/2010 củaBộ Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Rừng phòng hộ đã có công văn số 490/CV- BQL ngày 09/12/2010 gửi cho Hội đồng bồi thường huyện L về trường hợp của ông H. Ông H không thuộc đối tượng bị thu hồi đất, mà chỉ là đối tượng nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp do đó chỉ được hỗ trợ ổn định đời số ng và sản xuất theo Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vũ Văn L, chị Vũ Thị Thùy Tr, anh Vũ Minh H, chị Vũ Thị Ánh Tr, chị Vũ Thị Hồng Â, Công ty cổ phần môi trường T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng trình tự Luật Tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần môi trường T, ông L, chị Tr, anh H, chị Tr, và chị Â không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Thanh H là không đúng quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận, đề nghị  Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Công ty cổ phần môitrường T (trước đây tên gọi là Công ty trách nhiệm hữu hạn T), ông L, chị Tr, anhH, chị Tr và chị Â mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Ông Nguyễn Tấn H, ông Vũ Thanh B có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.

Ông Vũ Thanh H nhận Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L. Ngày 20 tháng 3 năm 2015, ông H nộp đơn khởi kiện tại  Tòa  án  nhân  dân  huyện  Long  Thành.  Căn  cứ  Điều  2  Nghị  quyết  số 104/2015/QH13 và khoản 2 Điều 104 của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì đơn khởi kiện của ông H còn trong thời hiệu khởi kiện.

[2] Về thẩm quyền: Tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định: Khiếu kiện hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cùng địa giới hành chính với Tòa ánthì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Ông H khởi kiện quyết định của Ủy ban nhân dân huyện L theo quy định trên thuộc thẩm quyền cấp tỉnh nhưng căn cứ khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 quy định: Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa án cấp tỉnh giải quyết. Do đó, Tòa án nhân dân huyện L tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 29 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung:

Ông Vũ Thanh H khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L, ông H cho rằng quyết định này chỉ hỗ trợ 50% giá đất được bồi thường là không đúng theo quy định tại khoản 3 Điều5 Quyết định số 20/2010/QĐ/UBND ngày 05/4/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Ông đề nghị Ủy ban nhân dân huyện L phải hỗ trợ thêm 25% trị giá đất số tiền là 96.660.000 đồng; trợ cấp gạo cho 06 nhân khẩu là 16.200.000 đồng; thưởng chấp hành tốt việc thu hồi đất 8.000.000 đồng; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp  là  11.024m2   x  90.000  đồng/m2   =  992.160.000  đồng,  tổng  cộng  là1.113.020.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông C xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền trợ cấp gạo 16.200.000 đồng, đồng thời ông C yêu cầu bổ sung hủy Quyết định số 643/QĐ-UBND  ngày  03/02/2016  và  Quyết  định  số  1799/QĐ-UBND  ngày11/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện L. Xét thấy, việc ông C rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu trên.

Đối  với  yêu  cầu  bổ  sung  hủy  Quyết  định  số  643/QĐ-UBND  ngày 03/02/2016 và Quyết định số 1799/QĐ-UBND ngày 11/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện L. Xét thấy, theo hợp đồng ủy quyền ngày 13/3/2015 ông H chỉ ủy quyền cho ông C khởi kiện và tham gia tố tụng đối với Quyết định số 3008/QĐ- UBND ngày 27/6/2014 mà không ủy quyền nội dung khác nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết theo nội dung đơn khởi kiện của ông H.

Xét thấy, phần đất ông H canh tác thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 20, xã B, huyện L là đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai giao cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ L quản lý tại Quyết định số 1307/QĐ-UBND ngày 25/9/1978. Ban Quản lý Rừng phòng hộ L giao khoán đất cho ông H mục đích để sản xuất nông nghiệp,  lâm  nghiệp,  nuôi  trồng  thủy  sản  theo  Hợp  đồng  số  100/HĐK  ngày 30/9/2004.

Căn cứ Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn số ng chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ cao nhất bằng giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương”.

Theo khoản 3 Điều 5 Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định “Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất do giao nhận khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ bằng tiền, với mức hỗ trợ bằng 50% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức diện tích giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 70 Luật Đất đai năm 2003”.

Như vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện L căn cứ khoản 3 Điều 20 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ và khoản 3 Điều 5 Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai để ban hành Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 để hỗ trợ ổn định đời số ng và sản xuất cho hộ ông Vũ Thanh H với mức hỗ trợ 50% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi là có căn cứ.

[4] Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính và các văn bảnhành chính có liên quan:

Sau khi có Thông báo số 5140/TB - UBND ngày 28/6/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, ngày 18/11/2011 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đãban hành Quyết định số 3017/QĐ - UBND về việc giao đất cho Công ty TNHH T thực hiện dự án Nhà máy xử lý chất thải công nghiệp và nguy hại tại xã B, huyện L. Ngày 26/6/2014, Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định số 2853/QĐ - UBND về phê duyệt phương án hỗ trợ cho các hộ dân, trong đó có hộ ông H. Ngày 27/6/2014, Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định số 3008/QĐ-UBND để hỗ trợ cho hộ ông H 193.320.000 đồng.

Trong quá trình Tòa thụ lý giải quyết vụ án Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có văn bản số 7548/UBND- ĐT ngày 18/9/2015 chấp thuận cho chủ đầu tư cam kết hỗ trợ bổ sung 25% giá trị đất cho 13 hộ gia đình (trong đó có hộ ông H) đồng thời chấp thuận cho Ủy ban nhân dân huyện L căn cứ Quyết định số 54/2014-QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai để thực hiện hỗ trợ cho các hộ dân. Ngày 03/02/2016, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 643/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ khác cho các hộ dân có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng thuộc dự án Nhà máy xử lý rác thải tại xã B, huyện L. Ngày 11/5/2016, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 1799/QĐ - UBND bồi thường, hỗ trợ thêm cho ông H 25% là 96.660.000 đồng.

Như vậy, trình tự, thủ tục, nội dung ban hành Quyết định số 3008/QĐ- UBND  ngày  27/6/2014,  Quyết  định  số  643/QĐ-UBND  ngày  03/02/2016  và Quyết định số  1779/QĐ - UBND ngày 11/5/2016 của Ủy ban nhân dân huyện L là phù hợp với quy định tại Điều 39, 43 Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ và Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

[5] Từ những nhận định trên, nhận thấy Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 “Về việc hỗ trợ ông Vũ Thanh H có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng, nhận chuyển nhượng hợp đồng khoán của Ban Quản lý Rừng phòng hộ L thuộc dự án đầu tư Nhà máy xử lý rác thải tại xã B, huyện L” và Quyết định số 1779/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện ngày 11/5/2016 “Về việc phê duyệt hỗ trợ khác cho hộ ông Vũ Thanh H hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng, nhận chuyển nhượng hợp đồng nhận khoán của Ban Quản lý Rừng phòng hộ L thuộc dự án đầu tư Nhà máy xử lý rác tại xã B” là đúng quy định pháp luật. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông H không được chấp nhận nên ông Hoàng phải chịu 200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 29 và Điều 104 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

Căn cứ Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 173, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính của Quốc hội.

Căn cứ Điều 39, 43 Luật Đất đai năm 2003;  Pháp lệnh Án phí, Lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; khoản 3 Điều 5 Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND ngày 03/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc ban hành trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Thanh H về việc yêu cầu hủy Quyết định hành chính số 3008/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai phải bồi thường số tiền 1.096.820.000 đồng (một tỷ không trăm chín mươi sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn).

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Vũ Thanh H về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện L bồi thường 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng tiền trợ cấp gạo.

Về án phí: Ông Vũ Thanh H phải chịu án phí hành  chính sơ thẩm là 200.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 006714 ngày 20/4/2015 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Ông Vũ Thanh H được quyền làm đơn kháng cáo bản án hành chính sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án hành chính sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


168
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về