Bản án 01/2018/HSST ngày 03/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 03/01/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2017/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2017/HSST-QĐ ngày 22 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. SIN VĂN P, sinh ngày 10/12/1997 tại huyện BT, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn BC, xã BC, huyện BT, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sin Khai T (đã chết) và bà Châu Thị M; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 31/8/2017; có mặt.

2. VÀNG VĂN H, sinh ngày 08/11/2000 tại huyện QB, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn TT, xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Văn D và bà Vàng Thị K; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vàng Văn H: Bà Vàng Thị K, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn TT, xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; là mẹ của bị cáo Vàng Văn H; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn H: Ông Cao Xuân B, Luật sư – Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang; có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn TT, xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; có mặt.

2. Anh Triệu Tà K, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn XC, xã TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Cháu Trương Đức A, sinh ngày 05/5/2002; nơi cư trú: Thôn HS, xã TN, huyện  QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt.

2. Anh Tẩn Sỷ N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn NC I, xã NC, huyện SP, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Làm ruộng; vắng mặt.

3. Anh Phùng Vần P, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn NC II, xã NC, huyện SP, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Làm ruộng; vắng mặt.

4. Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ 26, phường PM, thành phố LC, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Buôn bán; vắng mặt.

5. Bà Châu Thị M, sinh năm 1981 ; nơi cư trú: Thôn BC, xã BC, huyện BT, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Làm ruộng; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - cháu Trương Đức A: Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn HS, xã TN, huyện  QB, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sin Văn P, Vàng Văn H và Trương Đức A cùng làm thuê tại thành phố LC, tỉnh Lào Cai nên quen biết nhau. Sáng ngày 03/8/2017, trong lúc đi làm, Vàng Văn H kể với Sin Văn P và Trương Đức A là tại khu vực nhà mình ở xã TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang có nhiều nhà nuôi gà dễ bắt trộm. Sin Văn P bảo với Vàng Văn H và Trương Đức A khi nào có thời gian thì đi trộm cắp, Vàng Văn H và Trương Đức A đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Sin Văn P rủ Vàng Văn H và Trương Đức A đi trộm cắp gà như đã bàn trước đó. Sin Văn P điều khiển xe máy kiểu dáng Dream, không có biển số (anh Đoàn Bắc N, sinh năm 1987, trú tại xã ĐT, huyện VB, tỉnh Nam Định, là người thuê Sin Văn P, Vàng Văn H, Trương Đức A làm các công trình xây dựng, đã cho Sin Văn P mượn xe này để đi lại trong khi làm công trình cho mình tại thành phố LC), chở Vàng Văn H và Trương Đức A từ thành phố LC, tỉnh Lào Cai đến thôn TT, xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Sin Văn P để xe máy ở cạnh đường ô tô rồi Vàng Văn H dẫn Trương Đức A và Sin Văn P đi theo đường mòn và quan sát các hộ gia đình ở cạnh đường để trộm gà nhưng bị chó sủa nên không thực hiện được. Vàng Văn H dẫn Sin Văn P và Trương Đức A đi đến nhà anh Hoàng Văn T ở thôn TT, xã TN, huyện QB rồi bảo Sin Văn P ở ngoài canh gác còn Vàng Văn H và Trương Đức A đi vào chuồng gà. Vàng Văn H cởi dây buộc cửa chuồng gà, chui vào trong bắt gà còn Trương Đức A đứng ngoài cửa đợi. Vàng Văn H bắt được một con gà đưa cho Trương Đức A cầm, sau đó bắt tiếp một con gà nữa rồi cùng Trương Đức A đi ra đưa cho Sin Văn P. Tiếp đó, Vàng Văn H và Trương Đức A quay lại chuồng gà, Vàng Văn H vào chuồng bắt được một con gà thì thấy người nhà anh Hoàng Văn T đi xuống gầm sàn, sợ bị lộ nên Vàng Văn H cầm gà ra ngoài cùng Trương Đức A chạy về chỗ Sin Văn P rồi cùng nhau đi theo đường cũ đến chỗ để xe máy. Sin Văn P nói rằng lấy 03 con gà thì ít quá không bõ công, xem có xe máy thì lấy trộm, Vàng Văn H và Trương Đức A đồng ý. Sin Văn P chở Vàng Văn H và Trương Đức A đi theo đường ô tô hướng từ xã  TN ra Quốc lộ 279, vừa đi vừa quan sát tìm xe máy để trộm cắp. Đến km 11+900 thuộc thôn XC, xã  TN, huyện QB, Sin Văn P phát hiện một chiếc xe máy dựng ở hiên một lán ven đường (xe có nhãn hiệu HONDA, loại Wave RSX, màu sơn đỏ - đen, biển số 23E1-080.46, là xe của anh Triệu Tà K trú tại thôn XC, xã TN, dựng nhờ ở hiên lán của ông Triệu Sềnh P, trú cùng thôn). Sin Văn P điều khiển xe đi qua khoảng 60 mét rồi dừng xe bảo Vàng Văn H quay lại trộm cắp, Sin Văn P và Trương Đức A sẽ đi trước đợi. Vàng Văn H đi bộ quay lại lán, dắt chiếc xe máy trên ra ngoài rồi thả trôi đến chỗ Sin Văn P và Trương Đức A đang đợi. Sin Văn P tìm dây đấu tắt khóa điện xe trộm cắp nhưng không được nên Vàng Văn H tiếp tục điều khiển thả trôi dốc xe khoảng 500 mét thì dừng lại. Vàng Văn H lấy một đoạn củi khô dài khoảng 01 mét ở lề đường đưa cho Sin Văn P. Sin Văn P dùng đoạn cây này cậy bật yên xe, thấy trong cốp xe có một đoạn dây cao su và một túi nilon màu trắng đựng một quyển sách hướng dẫn sử dụng xe máy. Sin Văn P điều khiển xe máy mượn của anh Đoàn Bắc N chở Trương Đức A cầm theo 03 con gà trộm cắp, Vàng Văn H điều khiển xe trộm cắp được thả trôi theo hướng ra Quốc lộ 279, đi đến cầu NK thuộc thôn NT, xã TB, huyện QB thì Vàng Văn H đưa chiếc xe trộm cắp được xuống bờ suối. Trương Đức A dùng dùng điện thoại di động bật đèn soi để Sin Văn P tìm dây để đấu tắt khóa điện. Nổ được máy xe thì Vàng Văn H điều khiển xe trộm cắp được chở Trương Đức A cầm theo 03 con gà, còn Sin Văn P đi xe máy mượn của anh Đoàn Bắc N. Đến thôn BC, xã BC, huyện BT, tỉnh Lào Cai, Sin Văn P về nhà cất xe máy mượn của anh Đoàn Bắc N, rồi điều khiển xe trộm cắp được chở Vàng Văn H và Trương Đức A đến thành phố LC, cùng nhau bán 03 con gà trộm cắp được cho anh Hoàng Văn L là chủ quán phở với số tiền 600.000 đồng mà không nói đây là gà trộm cắp mà có rồi cùng ăn phở. Sin Văn P trả tiền phở hết 90.000 đồng, chia cho Vàng Văn H và Trương Đức A mỗi người 150.000 đồng, còn 210.000 đồng thì Sin Văn P giữ. Trên đường về, Sin Văn P bảo sẽ sử dụng xe trộm cắp được và cho Vàng Văn H và Trương Đức A mỗi người 500.000 đồng. Vàng Văn H và Trương Đức A đồng ý. Sáng ngày 04/8/2017, Sin Văn P tháo biển số của chiếc xe trộm cắp được, cất giấu tại nhà bà Châu Thị X (là dì của Sin Văn P), sinh năm 1982, trú tại tổ 24, phường BM, thành phố LC mà không nói cho bà Châu Thị X biết. Sau đó, Sin Văn P bán xe máy này cho anh Tẩn Sỷ N, trú tại thôn NC I, xã NC, huyện SP, tỉnh Lào Cai với giá 4.000.000 đồng, nói dối đây là xe của bạn bán rẻ cho Sin Văn P, giấy tờ và biển số bị rơi đang làm thủ tục cấp lại. Anh Tẩn Sỷ N trả trước 3.500.000 đồng, 500.000 đồng sẽ trả nốt khi có giấy tờ xe. Anh Tẩn Sỷ N lại bán lại chiếc xe này cho anh Phùng Vần P, trú tại thôn NC II, xã NC, huyện SP, tỉnh Lào Cai với giá 6.100.000 đồng nhưng anh Phùng Vần P trả trước 5.600.000 đồng, còn nợ 500.000 đồng. Số tiền bán gà và xe máy trộm cắp được, Sin Văn P, Vàng Văn H và Trương Đức A đã chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất xe máy, anh Triệu Tà K đi tìm nhưng không thấy nên ngày 27/8/2017 đã đến Công an huyện  Quang  Bình  trình  báo.  Ngày 30/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình phát hiện, thu giữ được chiếc xe máy nói trên tại nhà anh Phùng Vần P và thu giữ 01 biển số 23E1-080.46 tại nhà bà Châu Thị X, tiến hành điều tra, làm rõ hành vi trộm cắp của Sin Văn P, Vàng Văn H và Trương Đức A.

Theo Kết luận định giá tài sản số 146-KL/HĐĐG ngày 31/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang Bình thì chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ - đen, loại Wave RSX, biển số 23E1-080.46 có giá trị còn lại là 15.400.000 đồng. Và theo Kết luận định giá tài sản số 213- KL/HĐĐG ngày 25/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quang Bình thì 03 con gà đã bị Sin Văn P, Vàng Văn H và Trương Đức A trộm cắp có giá trị là 720.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn H, các bị hại đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Về bồi thường thiệt hại: Gia đình các bị cáo Sin Văn P, Vàng Văn H và gia đình cháu Trương Đức A đã thỏa thuận và tự nguyện bồi thường cho bị hại Triệu Tà K số tiền là 7.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Hoàng Văn T số tiền là 900.000 đồng, trong đó gia đình bị cáo Sin Văn P bồi thường với tổng số tiền là 2.700.000 đồng, còn gia đình bị cáo Vàng Văn H và gia đình cháu Trương Đức A mỗi gia đình bồi thường với tổng số tiền là 2.600.000 đồng. Gia đình bị cáo Sin Văn P đã tự nguyện bồi thường cho anh Tẩn Sỷ N số tiền là 3.500.000 đồng. Anh Tẩn Sỷ N đã trả cho anh Phùng Vần P số tiền là 5.600.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Các anh Tẩn Sỷ N, Phùng Vần P không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi, trả lại cho anh Triệu Tà K chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ - đen, loại Wave RSX, biển số 23E1-080.46. Còn xe máy kiểu dáng Dream, không có biển số của anh Đoàn Bắc N mà bị cáo Sin Văn P đã mượn đi thì bị Công an xã BC, huyện BT, tỉnh Lào Cai tạm giữ, giải quyết trong vụ việc khác.

Công an huyện Quang Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cảnh cáo Trương Đức A về các hành vi trộm cắp tài sản nói trên.

Tại bản Cáo trạng số 10/KSĐT-KT ngày 20/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình đã truy tố Sin Văn P và Vàng Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị tuyên bố các bị cáo Sin Văn P và Vàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm b, h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm n khoản 1 Điều 48, Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Sin Văn P từ 07 đến 10 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm b, h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 53, Điều 69, Điều 73, Điều 31 của của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Vàng Văn H từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; về vật chứng do đã được xử lý xong nên không đề cập đến; về trách nhiệm dân sự không đề cập đến vì các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được bồi thường, không yêu cầu gì thêm; buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn H có ý kiến: Viện kiểm sát truy tố Sin Văn P và Vàng Văn H về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội. Sin Văn P và Vàng Văn H là đồng phạm, Sin Văn P là người khởi xướng, rủ rê, chủ mưu, còn Vàng Văn H là người thực hành với vai trò giúp sức tích cực. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử cho Vàng Văn H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã cùng gia đình khắc phục hậu quả, phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, quy định tại các điểm b, g, h và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Vàng Văn H là người chưa thành niên phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn nên hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, tại phiên tòa các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 46, 47, 73 và 74 Bộ luật Hình sự xử phạt Vàng Văn H 06 tháng cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung, để Vàng Văn H có cơ hội cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều thừa nhận có hành vi trộm cắp gà của anh Hoàng Văn T và trộm cắp xe máy của anh Triệu Tà K. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận có các hành vi trộm cắp như cáo trạng đã nêu, nhận thấy các hành vi đó của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; bị cáo Vàng Văn H không có gì để bổ sung ý kiến bào chữa; các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với mình.

Bà Vàng Thị K - người đại diện hợp pháp của bị cáo Vàng Văn H có ý kiến là cáo trạng đã nêu đúng hành vi phạm tội của Vàng Văn H, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với Vàng Văn H. Vàng Văn H là con của bà, đã tác động bà để bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Số tiền 2.600.000 đồng bà đã thay Vàng Văn H để bồi thường cho các bị hại, nay bà không yêu cầu Vàng Văn H phải trả lại.

Các bị hại Hoàng Văn T và Triệu Tà K đều có ý kiến là đã nhận lại được tài sản của mình, đã được bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì thêm về dân sự; đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cháu Trương Đức A có ý kiến là cáo trạng đã nêu đúng các tình tiết của vụ án có liên quan đến mình.

Bà Lý Thị Đ - người đại diện hợp pháp của cháu Trương Đức A có ý kiến số tiền 2.600.000 đồng bà đã thay con bà là Trương Đức A để bồi thường cho các bị hại, nay bà không yêu cầu Trương Đức A phải trả lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Châu Thị M có ý kiến là bị cáo Sin Văn P là con của mình, do không có tài sản riêng nên đã nhờ mình bồi thường thiệt hại. Bà đã cùng gia đình Vàng Văn H và gia đình Trương Đức A thống nhất bồi thường thiệt hại cho các bị hại với số tiền như cáo trạng đã nêu, trong đó phần của bà đóng góp là 2.700.000 đồng. Số tiền này bà không có yêu cầu Sin Văn P phải trả lại.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Tẩn Sỷ N, Phùng Vần P, Hoàng Văn L vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo lời khai tại Cơ quan điều tra thì họ có ý kiến là do không biết những tài sản mà các bị cáo bán cho là do trộm cắp mà có nên đã mua. Họ không đưa ra yêu cầu, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quang Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn H, các bị cáo và các bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận có các hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của mình trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với các biên bản khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm hiện trường, phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Vì cần tiền chi tiêu cá nhân nên các bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu. Do đó, các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp gà và xe máy liên tục, kế tiếp nhau trong tối ngày 03/8/2017, với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 16.120.000 đồng. Khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo Sin Văn P trên 18 tuổi, bị cáo Vàng Văn H trên 16 tuổi, đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm theo khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 và đều không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp đều với lỗi cố ý; giá trị tài sản chiếm đoạt tương đối lớn, đủ mức xử lý về hình sự.  Hành vi trên của các bị cáo thể hiện việc coi thường pháp luật, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, là khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử thấy luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, có khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

[3] Đối với Sin Văn P, khi nghe Vàng Văn H nói khu vực nhà mình có nhiều nhà nuôi gà dễ bắt trộm thì Sin Văn P bảo với Vàng Văn H và Trương Đức A khi nào có thời gian thì đi trộm cắp và ngay chiều đó, Sin Văn P rủ Vàng Văn H và Trương Đức A đi trộm cắp gà như đã bàn trước đó. Như vậy Sin Văn P là người khởi xướng, rủ rê, xúi giục Vàng Văn H và Trương Đức A đi trộm cắp. Khi trộm cắp gà và xe máy thì Sin Văn P là người canh gác, thể hiện vai trò giúp sức. Còn Vàng Văn H, khi nghe Sin Văn P rủ đi trộm cắp đã hưởng ứng và là người trực tiếp, tích cực thực hiện hành vi trộm cắp gà và xe máy. Các bị cáo cố ý cùng thực hiện tội Trộm cắp tài sản nên là đồng phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, đã tác động gia đình nhờ bồi thường thiệt hại cho các bị hại; đều là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Vì vậy, khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Riêng đối với Sin Văn P cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là xúi giục người chưa thành niên phạm tội. Cân  nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần quyết định mức hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo Sin Văn P khỏi đời sống xã hội một thời gian. Còn bị cáo Vàng Văn H là người chưa thành niên, có nơi cư trú rõ ràng. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Cần căn cứ Điều 31, khoản 1 Điều 69, Điều 73 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vàng Văn H; vừa thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo, đồng thời cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong lĩnh vực phòng chống tội phạm.

[4] Đối với Trương Đức A, khi thực hiện hành vi trộm cắp gà và xe máy là chưa đủ 16 tuổi nên Công an huyện Quang Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã được trả lại tài sản bị chiếm đoạt và được bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 138, các điểm b, h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm n khoản 1 Điều 48, Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999, tuyên bố bị cáo Sin Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Sin Văn P 08 (tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2017;

Căn cứ khoản 1 Điều 138, Điều 31, các điểm b, h và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 53, khoản 1 Điều 69, Điều 73 của Bộ luật Hình sự năm 1999, tuyên bố bị cáo Vàng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản; xử phạt bị cáo Vàng Văn H 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành bản án và bản sao bản án. Giao bị cáo Vàng Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo Vàng Văn H có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã  TN, huyện QB, tỉnh Hà Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo;

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Sin Văn P và Vàng Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vàng Văn H, người bào chữa cho bị cáo Vàng Văn H, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể  từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật Thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/HSST ngày 03/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quang Bình - Hà Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về