Bản án 01/2018/HSST ngày 25/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 25/01/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2017/HSST ngày 28/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 15/01/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại tỉnh ĐN; Nơi ĐKNKTT: Thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh Đ N; Chỗ ở: Thôn T N, xã N, huyện C, tỉnh ĐN; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1956 và bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1958, hiện đang sinh sống tại thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh ĐN; Vợ Vũ Thị T, sinh năm 1982 và 02 (hai) con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: 04 tiền án, Bản án số 68/2007/HSPT, ngày 14/9/2007 TAND tỉnh ĐN xử phạt Lê Văn M 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 26/4/2008 chấp hành xong hình phạt; Bản án số 15/2009/HSST, ngày 12/3/2009 TAND huyện C, tỉnh ĐN xử phạt Lê Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 28/01/2010 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 07/2013/HSST, ngày 25/01/2013 TAND huyện C xử phạt Lê Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 15/01/2014 chấp hành xong hình phạt tù; Bản án số 52/2014/HSST, ngày 28/10/2014 TAND huyện C xử phạt Lê Văn M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 07/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/10/2017 đến ngày 03/11/2017 bị tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C, có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN. – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Cao Văn N, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN. – Vắng mặt.

2/ Anh Y Hùng Knul, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN. – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 16/10/2017, Lê Văn M đến quán Ý Như do bà Nguyễn ThịHồng M làm chủ, tại thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN để hát Karaoke. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, M ra thanh toán tiền, nhưng do số tiền phải trả là 1.100.000đ(một triệu một trăm nghìn đồng) và không mang đủ tiền nên M để lại 01 (một) chiếc điện thoại và hẹn hôm sau sẽ thanh toán đủ tiền rồi đi về. Khi đi ra đến cổng, M nảy sinh ý định đột nhập vào quán Ý Như để lấy lại điện thoại của mình. Đến khoảng 02 giờ ngày 17/10/2017, M trèo qua hàng rào phía trước quán rồi đi theo lối bên hông nhà đến khu kinh doanh cà phê của quán, M tìm kiếm chiếc điện thoại của mình để lấy lại nhưng không tìm thấy và M phát hiện mọi người trong nhà đều ngủ say, trong quán có nhiều tài sản giá trị nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. M thấy có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly G117 màu đen để trênnền đất nên lấy trộm. Sau đó, M đến quầy pha chế để tìm điện thoại của mình nhưng không thấy và phát hiện có 01 (một) giỏ nhựa màu đỏ có đựng thuốc lá bên trong, M lấy giỏ rồi trèo qua hàng rào sang nhà bên cạnh, để lại giỏ ở đây rồi trèo lại vô nhà bà M. Thấy cửa sau nhà mở nên M đi vào thì phát hiện cửa phòng ngủ thứ nhất phía bên phải không khóa, M lẻn vào phòng lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1 màu trắng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu Gold rồi mang 02 (hai) chiếc điện thoại trên để ở phòng pha chế. Sau đó, tiếp tục đi vào phòng ngủ thứ hai, mở tủ quần áo để tìm điện thoại của mình nhưng không thấy nên kéo phía dưới của tủ quần áo thì thấy có 01 (một) con heo đất nên lấy trộm rồi mang ra phía sau nhà đập vỡ lấy được số tiền 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng). Sau đó, quay lại phòng ngủ thứ hai thì thấy trên giường có 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng nên lấy trộm rồi đi ra ngoài. Khi đi ngang qua quầy pha chế, M lấy 02 (hai) chiếc điện thoại đã lấy trộm trước đó rồi trèo hàng rào qua vườn nhà bên cạnh lấy giỏ nhựa, bỏ hết điện thoại vào trong giỏ và đi bộ về nhà. Trong quá trình đi bộ về nhà,M nhặt được một túi ni lông màu đen nên M bỏ những tài sản vừa trộm cắp vào và vứt chiếc giỏ nhựa ở dọc đường.

Khoảng 7 giờ ngày 17/10/2017, Lê Văn M xách theo túi ni lông màu đen đến nhà ông Cao Văn N ở thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN ngồi ăn sáng và uống rượu. Sau đó, M đã cho ông N 02 (hai) chiếc điện thoại di động gồm 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen và bán cho Y H (thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1 màu trắng với giá1.000.000đ (một triệu đồng), còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu Gold thì M vứt lại ở vườn phía sau nơi ông Năm trồng nghệ vì nghĩ điện thoại này có chức năng định vị, dễ bị phát hiện. Số tiền bán điện thoại và tiền lấy trộm được từ con heo M đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 31/10/2017, Lê Văn M nhận thức được hành vi trộm cắp của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện ra Cơ quan CSĐT Công an huyện C, tỉnh ĐN đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng của vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện C thu giữ gồm:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, đã qua sử dụng.

- 03 (ba) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, chưa qua sử dụng.

- 04 (bốn) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, chưa qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/2017/KL-HĐĐG ngày 08/11/2017của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, đã qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, đã qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, đã qua sửdụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu Gold, đã qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

- 10 (mười) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, chưa qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- 07 (bảy) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, chưa qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 140.000đ (một trăm bốn mươi nghìn đồng).

- 05 (năm) gói thuốc lá nhãn hiệu JET, chưa qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại có giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

- 02 (hai) gói thuốc lá nhãn hiệu 555, chưa qua sử dụng; tại thời điểm bị xâm hại có giá trị 80.000đ (tám mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị xâm hại ngày 17/10/2017 là 5.000.000đ (năm triệu đồng).

Quá trình điều tra xác định 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, 03 (ba) gói thuốc lánhãn hiệu CRAVEN A, 04 (bốn) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE là của bàNguyễn Thị Hồng M (HKTT: Thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN) nên ngày18/12/2017, cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lạicho bà Nguyễn Thị Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M đã được nhận lại một phần số tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Bản Cáo trạng số 03/CTr-VKS ngày 28/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dânhuyện C đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện C, việc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan.

Tại phiên tòa người bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M yêu cầu bị cáo phải bồithường thiệt hại đối với chiếc điện thoại Iphone 5S màu Gold là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm ngàn đồng) và số tiền mặt bị cáo đã lấy trộm trong con heo đất là 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C khẳng định việctruy tố bị cáo Lê Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện C để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản Cáo trạng số 03/CTr-VKS ngày 28/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 03 đến 04 năm tù.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, 03 (ba) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, 04 (bốn) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE cho bà Nguyễn Thị Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận tại phiên tòa người bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M và bị cáo Lê Văn M thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bà M thiệt hại đối với chiếc điện thoại Iphone 5S màu Gold là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và số tiền mặt bị cáo đã lấy trộm trong con heo đất là 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng cộng là 2.980.000đ (hai triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng)

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sátđiều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với hành vi của bị cáo HĐXX thấy rằng: Vào khoảng 02 giờ ngày17/10/2017, tại quán Ý Như của bà Nguyễn Thị Hồng M ở thôn 6, xã N, huyện C, tỉnh ĐN, Lê Văn M đã có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu Gold, 10 (mười) gói thuốc lá nhãn hiệuCRAVEN A, 07 (bảy) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, 05 (năm) gói thuốc lá nhãn hiệu JET, 02 (hai) gói thuốc lá nhãn hiệu 555 và số tiền 580.000đ (năm trăm tám mươi  nghìn  đồng). Tổng giá trị  tài  sản  Lê Văn M đã trộm cắp  là 5.580.000đ (năm triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Lê văn M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Điều 138. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

“1/ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

c. Tái phạm nguy hiểm.”

……………………….;

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền đối với tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã có 04 (bốn) tiền án về tội Trộm cắp tài sản, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chăm lo lao động phát triển kinh tế gia đình, sống có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi một phần trả lại cho người bị hại, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Vì vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Đối với ông Cao Văn N có hành vi nhận hai chiếc điện thoại di động mà Lê Văn M cho và anh Y H có hành vi mua chiếc điện thoại di động với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) từ Mạnh. Tuy nhiên, ông Cao Văn N và anh Y H không biết đây là tài sản Lê Văn M trộm cắp được mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với việc bà M khai nhận số tiền trong con heo đất khoảng 2.000.000đ(hai triệu đồng) và việc bà M khai bị mất 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng), trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã chứng minh được Lê Văn M chỉ lấy được số tiền 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng) từ con heo đất. Vì vậy không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 (một) chiếc giỏ nhựa Lê Văn M đã lấy trộm của bà M dùng để đựng tài sản trộm cắp, nhưng sau đó M vứt lại trên đường về nhà. Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không thu giữ được và Cơ quan điều tra không tiến hành trưng cầu giám định đối với chiếc giỏ nhựa vì người bị hại không yêu cầu giám định do không còn giá trị sử dụng.

Đối với 07 (bảy) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, 03 (ba) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, 02 (hai) gói thuốc lá nhãn hiệu 555, 05 (năm) gói thuốc lá nhãn hiệu JET, Lê Văn M khai nhận đã sử dụng hết. Cơ quan CSĐT không tiến hành thu giữ được.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, 03 (ba) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, 04 (bốn) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE cho bà Nguyễn Thị Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Chấp nhận tại phiên tòa người bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M và bị cáo Lê Văn M thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho bà M thiệt hại đối với chiếc điện thoại Iphone 5S màu Gold là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn  đồng) và số tiền mặt bị cáo đã lấy trộm trong con heo đất là 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng cộng là2.980.000đ (hai triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng)

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[3] Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra: Xét đề nghị của kiểm sát viên về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và xử lý vật chứng của vụ án là phù hợp, mức hình phạt đề nghị áp dụng từ 03 đến 04 năm tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Lê Văn M 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (31/10/2017).

3. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung DUOS màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G117 màu đen, 03 (ba) gói thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN A, 04 (bốn) gói thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE cho bà Nguyễn Thị Hồng M là chủ sở hữu hợp pháp.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Chấp nhận tại phiên tòa người bị hại bà Nguyễn Thị Hồng M và bị cáo Lê Văn M thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho bà M thiệt hại đối với chiếc điện thoại Iphone 5S màu Gold là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và số tiền mặt bị cáo đã lấy trộm trong con heo đất là 580.000đ (năm trăm tám mươi nghìn đồng) Tổng cộng là2.980.000đ (hai triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìnđồng) án phí hình sự sơ thẩm, 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/HSST ngày 25/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về