Bản án 01/2018/KDTM-ST ngày 12/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 01/2018/KDTM-ST NGÀY 12/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 12 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 07/2018/TLST-KDTM ngày 16/7/2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-KDTM ngày 16/9/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A (A Bank).

Địa chỉ trụ sở chính: Số 130, phường M, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ chi nhánh Hà Nam: Số 122, đường B, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T; chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người được ủy quyền lại: Ông Đỗ Xuân T; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh Hà Nam (theo Quyết định ủy quyền số 1600/QĐ-DAB-PC ngày 15/11/2017 của TGĐ Ngân hàng TMCP A).

Người được ông Đỗ Xuân T ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đào Thế N, sinh năm 1982; chức danh: Chuyên viên thẩm định Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh Hà Nam (theo Giấy ủy quyền số 14/QĐ-AB-HNM ngày 01/8/2018).

* Bị đơn:

1. Ông Đinh Huy H, sinh năm 1957;

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959;

Cùng địa chỉ: Tổ 9, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

(Bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho ông Đinh Huy H đại diện tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền ngày 27/7/2018).

Phiên tòa có mặt ông Đào Thế N và ông Đinh Huy H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần A (A Bank) trình bày: Ngày 15/10/2014, Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh Hà Nam và ông Đinh Huy H, bà Nguyễn Thị T ký hợp đồng tín dụng số K2102/1/NT về việc Ngân hàng A cho vợ chồng ông H, bà T vay số tiền là 250.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng với lãi suất 12%/năm để bổ sung vốn kinh doanh. Để đảm bảo việc thanh toán khoản nợ vay, ông H và bà T đã thế chấp tài sản là bất động sản của gia đình mình cho Ngân hàng gồm căn nhà ở hai tầng xây dựng năm 2014 có diện tích sử dụng 102m2 tọa lạc trên 108m2 đất ở (thửa đất số 154, tờ bản đồ PL22, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 923908 do UBND huyện K, tỉnh Hà Nam cấp ngày 25/8/2009) đứng tên cả hai ông bà là chủ sử dụng hợp pháp tại tổ 30 (nay là tổ 9), phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo Hợp đồng thế chấp số K2102/1/HĐTC ngày 14/10/2014. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà T mới chỉ thanh toán, trả cho Ngân hàng được 18.083.332 đồng lãi trong hạn. Do đến hạn trả nợ ông H, bà T không thanh toán trả được số tiền vay gốc theo hợp đồng nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn đồng thời tiến hành các biện pháp đôn đốc trả nợ, làm việc trực tiếp nhưng cho đến nay ông H, bà T vẫn không thanh toán trả thêm được khoản tiền nào cho Ngân hàng. Tính đến ngày 30/6/2018, ông bà còn nợ Ngân hàng 250.000.000 đồng vốn vay gốc, 12.333.333 đồng lãi trong hạn và 113.625.000 đồng lãi quá hạn, tổng cộng là 375.958.333 đồng. Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T phải thanh toán trả ngay toàn bộ số nợ gốc, tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng vay vốn đối với số nợ gốc chưa trả cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông H, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Tòa án xử lý các tài sản ông bà đã thế chấp để đảm bảo việc thu hồi vốn Ngân hàng đã cho vay.

Trong nội dung bản khai tại Tòa án, ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T cùng trình bày, xác nhận về việc ký hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng A - Chi nhánh Hà Nam ngày 15/10/2014 với số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay cũng như việc ông bà đã thế chấp tài sản của gia đình mình cho Ngân hàng để vay vốn đúng như nội dung đơn khởi kiện mà đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Đông Á đã khai, trình bày tại Tòa án. Về lý do chậm thanh toán trả nợ cho Ngân hàng, ông H và bà T trình bày là do kinh doanh làm ăn thua lỗ, bà T bị bệnh tai biến ốm đau thường xuyên, cuộc sống khó khăn, không có nguồn thu nhập nào khác nên ông bà không thể có điều kiện thanh toán trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện đòi nợ, ông bà đề nghị Ngân hàng xem xét, chấp nhận lùi thời hạn trả nợ sang năm 2019 khi ông bà nhận được tiền đền bù thu hồi đất canh tác nông nghiệp của gia đình nằm trong quy hoạch của thành phố sẽ có điều kiện thanh toán trả hết số nợ gốc và khoản lãi vay trong hạn cho Ngân hàng, riêng khoản lãi quá hạn ông bà đề nghị Ngân hàng xét miễn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vể thủ tục tố tụng, thời hiệu khởi kiện và áp dụng pháp luật dân sự:

Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh vì mục đích lợi nhuận; bị đơn có nơi cư trú tại tổ 3, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 30, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Tranh chấp dân sự trong vụ án thuộc trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về việc áp dụng pháp luật dân sự: Do giao dịch dân sự trong vụ án thực hiện trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực và có tranh chấp nên cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A - Chi nhánh Hà Nam đối với ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 15/10/2014, ông H và bà T đã ký với Ngân hàng A - Chi nhánh Hà Nam hợp đồng tín dụng số K2102/1/NT vay số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 12%/năm để bổ sung vốn kinh doanh. Hợp đồng được giao kết trên cơ sở thỏa thuận và tự nguyện giữa các bên, nội dung, hình thức hợp đồng không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên hoàn toàn hợp pháp. Để đảm bảo việc thanh toán khoản nợ vay, ông H và bà T còn tự nguyện thế chấp tài sản của gia đình mình là nhà ở, đất ở đang sử dụng tại xóm 13, xã T, huyện K nay là tổ 9, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà T đã không thực hiện việc trả nợ đúng hạn, vi phạm nghĩa vụ của bên vay, có lỗi khi thực hiện không đúng các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng nên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nghĩa vụ thanh toán trả khoản tiền đã vay, tiền lãi trên số nợ gốc theo lãi suất trong hợp đồng tương ứng thời hạn vay mà đến hạn chưa trả và lãi quá hạn theo thỏa thuận tương ứng thời gian chậm trả cho Ngân hàng. Do Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông H, bà T thanh toán trả nợ nhưng ông bà không thực hiện nên nay xét yêu cầu của Ngân hàng buộc ông bà phải trả ngay các khoản tiền gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn cho Ngân hàng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật tại các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 306 Luật thương mại năm 2005 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng cần được chấp nhận.

Xét đề nghị của Ngân hàng về việc xử lý tài sản ông H và bà T đã thế chấp khi vay vốn trong trường hợp ông bà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thấy: Việc các bên ký kết hợp đồng thế chấp số K2102/1/HĐTC ngày 14/10/2014 là hoàn toàn tự nguyện, trên cơ sở thỏa thuận và tuân thủ các quy định của pháp luật, mục đích là để đảm bảo việc thanh toán cho khoản nợ đã vay. Hợp đồng thế chấp được chứng thực của cơ quan công chứng có thẩm quyền và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, toàn bộ tài sản thế chấp được các bên xác nhận hiện tại vẫn do ông H và bà T quản lý, sử dụng, không có tranh chấp hay chuyển dịch quyền sở hữu. Vì vậy, xét biện pháp đảm bảo thu hồi nợ nêu trên theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ cần chấp nhận, giữ nguyên các tài sản ông H, bà T đã thế chấp khi vay vốn để đảm bảo thi hành án sau này nếu ông bà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngân hàng được hoàn trả lại khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 155 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 306 Luật thương mại năm 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A (A Bank): Buộc ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A - Chi nhánh Hà Nam số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng, lãi trong hạn là 12.333.333 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 12/10/2018 là 126.625.000 đồng, tổng cộng là 388.958.333 đồng.

Ông H và bà T còn phải trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 13/10/2018 theo mức lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng vay vốn (bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn) cho đến khi trả nợ xong.

Giữ nguyên tài sản của ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T tại tổ 9, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam gồm: Quyền sử dụng diện tích 108m2 đất ở (thửa đất số 154, tờ bản đồ PL22, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 923908 do UBND huyện K, tỉnh Hà Nam cấp ngày 25/8/2009 đứng tên cả hai ông bà là chủ sử dụng hợp pháp) và căn nhà hai tầng có trên đất ở đã thế chấp cho Ngân hàng khi vay vốn theo hợp đồng thế chấp số K2102/1/HĐTC ngày 14/10/2014 để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí: Ông Đinh Huy H và bà Nguyễn Thị T phải nộp 19.448.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh Hà Nam được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 9.390.000 đồng theo Biên lai thu tiền số: AA/2015/0001848 ngày 16/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/KDTM-ST ngày 12/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:01/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:12/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về