Bản án 01/2019/DS-PT ngày 18/02/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 01/2019/DS-PT NGÀY 18/02/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 18 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2018/TLPT-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh bị kháng cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2018/QĐPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị L (L); địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Q Trị, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Cao Xuân B; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Q, có mặt. 

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Văn H – Luật sư - Công ty Luật H; địa chỉ: 146/01, đườngT, thành phố Đ, tỉnh Q, có mặt.

4. Người kháng cáo ông Cao Xuân B là bị đơn trong vụ án.

5. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Cao Thị L trình bày:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/7/2015, bà L cùng với con gái ra đồng làm cỏ lúa, khoảng 30 phút sau thì ông Cao Xuân B ở cùng thôn vác theo 1 cây cúp ra trổ nước ở bậc hố bom vào ruộng, bà L đi đến chổ ông B cản lại không cho ông B trổ nước, hai bên lời qua tiếng lại, ông B dùng 2 tay bóp cổ vật bà L ngã xuống hố bom rồi ngồi lên bụng bà, bà L nằm ở tư thế ngữa, do ngạt nước nên dùng tay kéo cổ áo ông B thì ông B kéo bà L lên bờ ruộng, hai bên giằng co nhau; sau đó, có ông P (nay đã chết) can ngăn, do ông B dùng gậy đánh vào đầu gối bà L nên bà L đứng dậy không được. Ngay sau đó bà Lương báo công an đến lập biên bản, khoảng 9 giờ sáng cùng ngày bà L đi bó bột ở bệnh viện đa khoa V, tiếp đến điều trị ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Qị, Bệnh viện chấn thương chỉnh hình H, Phòng khám N, thành phố H. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Cao Xuân B phải bồi thường các khoản gồm:

Tiền xe vận chuyển đến Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh là 200.000 đồng; tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh là 200.000 đồng; tiền xe vận chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị là 1.400.000 đồng; tiền điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị là 1.280.000 đồng; đơn thuốc điều trị Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị chỉ định là 1.800.000 đồng; chi phí bồi dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị là 1.000.000 đồng; tiền xe vận chuyển đến Bệnh viện CTCH - PTTH H là 4.070.000 đồng; tiền chi phí điều trị Bệnh viện chấn thương chỉnh hình H là 19.560.000 đồng; chi phí bồi dưỡng tại Bệnh viện CTCH - PTTH H là 2.250.000 đồng; chi phí tái khám tại Bệnh viện CTCH - PTTH H là 930.000 đồng; chi phí phục hồi chức năng và tháo dụng cụ y tế tại Phòng khám N thành phố H là 20.800.000 đồng; thu nhập thực tế của bà L bị mất trong quá trình phải điều trị 239 ngày x 150.000 đồng là 35.850.000 đồng; Phần thu nhập bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong 34 ngày x 150.000 đồng là 5.100.000 đồng; bù đắp tổn thất tinh thần (1.210.000 đồng x 24 tháng) là 29.040.000 đồng; người phục vụ những ngày ngoại trú 52 ngày x 100.000 đồng là 5.200.000 đồng.

Tổng cộng: 128.680.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm bà Cao Thị L rút số tiền yêu cầu 28.400.000 đồng. Số tiền bà L yêu cầu ông Cao Xuân B bồi thường thiệt hại là 100.280.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 05/9/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Cao Xuân é trình bày:

Nội dung trình bày của bà L không đúng sự thật, không có căn cứ. Hôm đó, bà L thấy ông Bé cuốc cây cỏ tưởng ông B trổ nước nên đã đánh ông B, lúc đó ông B đang đứng ở tư thế trên cao bà L đứng phía hố bom thấp hơn, bà L dùng tay kéo ông B nên mất thế ngã xuống hố bom, sợ bà L ngạt nước nên ông B xuống hố bom kéo bà L lên chứ không đánh bà L. Ông B cho rằng, không có hành vi gây thương tích đối với bà L nên không đồng ý bồi thường bất cứ khoản thiệt hại nào cho bà L cả.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 và Quyết định số 01/2018/QĐ-SCBSBA ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm: Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 40, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe của bà Cao Thị L buộc ông Cao Xuân B phải bồi thường cho bà Cao Thị L tổng số tiền 70.390.000 đồng (Bảy mươi triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Về án phí sơ thẩm: Ông Cao Xuân B phải chịu là 3.519.500 đồng; Bà Cao Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/10/2018 bị đơn ông Cao Xuân B kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, với lý do:

Tại đơn khởi kiện của bà Cao Thị L và hồ sơ mà ông Cao Xuân B được cung cấp thì hoàn toàn trái ngược với lời tố cáo của bà Lương về tỷ lệ thương tích 23% sức khỏe, hồ sơ bệnh án, kết luận của Công an huyện Vĩnh Linh; về giám định; trả lời của VKSND huyện Vĩnh Linh. Ông B không nhất trí về kết luận của cơ quan Công an điều tra huyện Vĩnh Linh; Không chấp nhận bồi thường cho bà L số tiền gần 80 triệu đồng như bản án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh đã tuyên. Nguyên nhân sự việc giằng co, xô đẩy do bà L gây ra nên bà L phải chịu hậu quả đó.

Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh kháng nghị với nội dung như sau:

Việc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh nhận định ông Cao Xuân B có lỗi “Vô ý gây thương tích” cho bà Cao Thị L với tỷ lệ thương tích 23% dựa vào kết luận điều tra của Công an huyện Vĩnh Linh và hậu quả thương tích xảy ra đối với bà L là nguyên nhân do hành vi của ông Cao Xuân B gây ra nhưng ngoài mong muốn của ông B. Từ đó, buộc ông B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà L là không có cơ sở pháp lý; bởi lẽ: Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích đã kết luận: Không phát hiện ngoại lực tác động trực tiếp vào đầu gối chân phải của bà L  ngoài vết mổ do quá trình điều trị. Cơ chế hình thành dấu vết thương tích ở đầu gối chân phải của bà Lương là do cơ chế gián tiếp (chân phải bị xoắn vặn đột ngột quá mức) và kết luận của phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng về cơ chế hình thành tổn thương gối phải: Tổn thương vỡ mâm chày trước và bong điểm bám dây chằng chéo trước gối phải do trọng lực cơ thể dồn vào hai lồi cầu đầu dưới xương đùi phải khi tác động vào mâm chày phải theo chiều hướng từ trên xuống dưới và từ sau ra trước gây ra. Như vậy, ông Cao Xuân B không tác động gây ra cho bà Cao Thị L có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23% , không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của ông B. Kháng nghị theo hướng sửa bản án sơ thẩm số 04/2018/DS-ST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, không buộc ông Cao Xuân B phải bồi thường cho bà Cao Thị L tổng số tiền 70.390.000 đồng.

Ngày 21/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã rút toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh. Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/ UBTTQH14. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Cao Xuân B; sửa bản án sơ thẩm số 04/2018/DSST ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh theo hướng buộc ông Cao Xuân B phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Cao Thị L số tiền 38.415.000 đồng; buộc ông Bé phải chịu án phí DSST; bà L không phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2]. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Ông Cao Xuân B kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh kháng nghị, nằm trong thời hạn quy định của pháp luật nên chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm vụ án.

[3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Cao Xuân B. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào bản kết luận điều tra số 11/2016/KTĐT ngày 17/5/2016 của Công an huyện Vĩnh Linh xác định: Vào khoảng 08 giờ ngày 23/7/2015 giữa ông Cao Xuân B và bà Cao Thị L có xảy ra sự việc hai bên giằng co nhau, do việc trổ nước vào ruộng. Tại vị trí ông B và bà L đứng cạnh hố bom có nước, khi hai bên cải vả, giằng co, xô đẩy nhau, ông B dùng tay đẩy vào vai bà L thì bà L ngã ngữa về phía sau và cả hai cùng rơi xuống hố bom; lúc này, bà L cầm cổ áo ông B và kéo ông B xuống, sau đó ông B kéo bà L lên. Hậu quả bà L bị thương tích vỡ mâm đầu gối phải nên phải điều trị ở Bệnh viện với tỷ lệ thương tích 23%. Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Linh không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ Vô ý gây thương tích, do hậu quả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Bé đã thừa nhận, bà L túm cổ áo ông B thì ông B có vung tay và giằng co với bà L, nên bà L mất đà rơi xuống hố bom, sau đó ông B kéo bà L lên. Như vậy, lời trình bày của ông B phù hợp với kết luận của Công an huyện Vĩnh Linh.

Theo kết luận của phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng thì bà L bị tổn thương vỡ mâm chày trước và bong điểm bám dây chằng chéo trước gối. Mặc dù, có kết luận là không có phát hiện ngoại lực tác động trực tiếp vào đầu gối chân phải của bà L, nhưng ông B có vung tay và giằng co với bà L làm cho bà L bị ngã. Như vậy, có tác động từ lực của ông B mới dẫn đến hậu quả cho bà L. Tuy nhiên, xét nguyên nhân dẫn đến hậu quả thì thấy: Trong trường hợp này cả hai bên đều có lỗi, mặc dù là lỗi vô ý nhưng đã để lại hậu quả là bà L đã bị thương tích; do đó, các bên phải chịu hậu quả tương ứng với phần lỗi của mình. Kháng cáo của ông Cao xuân B cho rằng thương tích của bà L không phải do ông B gây ra là không có cơ sở.

[4]. Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 02/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh.

Tại Quyết định số 89/QĐ-VKS-DS ngày 21/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã rút toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh.

[5]. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị đưa ông Lê Hồng Q, Trưởng Công an xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh; ông Cao Duy A, Công an viên thôn H, xã T; chị Nguyễn Thị Ngọc A là con gái của bà Cao Thị L; ông Hoàng Văn T là con trai của ông Hoàng Văn P ở tại thôn H, xã T, huyện L, vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng và đề nghị hủy bản án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh do chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ. Thấy rằng; những người này không có mặt và chứng kiến sự việc xảy ra giữa bà L với ông B. Tại phiên tòa sơ thẩm, không có ai yêu cầu đưa những người trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Nên các yêu cầu này của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.

[6]. Trách nhiệm dân sự:

Cần chấp nhận các khoản chi phí sau của bà Cao Thị L là hợp lý, cần chấp nhận gồm:

- Chi phí điều trị, tại Bệnh viện đa khoa L từ ngày 23/7/2015 đến ngày 24/7/2015 là 175.000 đồng;

- Chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q từ ngày 24/7/2015 đến ngày 31/7/2015 là 8 ngày số tiền 1.280.000 đồng;

- Đơn thuốc điều trị Bệnh viện đa khoa tỉnh Q (ngày 8/8/2015 là 915.000đồng; hóa đơn ngày  31/7/2015 là 885.000 đồng) cộng là 1.800.000 đồng;

- Tại Bệnh viện CTCH - PTTH H từ ngày 19/8/2015 đến ngày 03/9/2015 là 15 ngày (hóa đơn ngày 02/9/2015 là 19.560.000 đồng, ngày 19/9/2015 là 930.000 đồng) cộng là 20.490.000 đồng.

- Tiền xe vận chuyển đến Bệnh viện đa khoa L là 200.000 đồng; tiền xe đến Bệnh viện đa khoa Q là 1.400.000 đồng; tiền xe vận chuyển đến Bệnh viện CTCH

- PTTH H là 4.070.000 đồng. Cộng tiền xe của các lần là 5.670.000 đồng.

- Chi phí bồi dưỡng tại bệnh viện trong thời gian điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Q là 1.000.000 đồng; Bệnh viện chấn thương chỉnh hình tại Huế là 2.250.000 đồng. Cộng tiền bồi dưỡng là 3.250.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị khoảng 03 tháng là 90 ngày x 150.000 đồng là 13.500.000 đồng.

- Thu nhập của người chăm sóc bị mất là 2.700.000 đồng.

- Tiền tổn thất tinh thần khoảng 5 tháng lương là phù hợp: 1.210.000 đồng x 5 tháng là 6.050.000 đồng

Tổng cộng: 54.915.000 đồng.

Như đã phân tích ở trên, trong vụ án này bà L cũng có lỗi, nên phải chịu một phần lỗi của mình tương ứng với số tiền 16.500.000 đồng; ông Bé chịu phần lỗi của mình tương ứng với số tiền 38.415.000 đồng.

Ý kiến đề nghị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp nhận. [6] Về án phí:

- Sửa án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Cao Xuân B phải chịu 1.920.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Cao Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Án phí DSPT: Ông Cao Xuân B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2, khoản 5 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Sửa bản án dân sự sơ thẩm.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Cao Xuân Bé, xử:

Buộc ông Cao Xuân B phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Cao Thị L số tiền 38.415.000 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm mười lăm ngàn đồng).

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Xuân B phải chịu 1.920.000 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Cao Xuân B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Bé số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000283 ngày 31/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


43
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về