Bản án 01/2019/DSST ngày 15/01/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 01/2019/DSST NGÀY 15/01/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2018/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp dân sự “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Quang S - sinh năm 1971;

Địa chỉ: Số 122, đường Trịnh Đình Thảo, ấp TĐ2, xã SĐ, huyện DMC, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đỗ Quang K – sinh năm 1969

Địa chỉ: Số 173, đường Võ Thị sáu, Kp2, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 4 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Quang S trình bày: Vào ngày 16/3/2016 ông Đỗ Quang K có vay của anh 100.000.000 đồng và hẹn ba tháng trả lại, nhưng không trả, ông K có trả được 05 tháng tiền lãi thì ngưng, nay yêu cầu buộc ông K trả cho anh số tiền 100.000.000 đồng vốn, không tính lãi.

Đối với bị đơn là ông Đỗ Quang K, Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định, nhưng ông K không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án, nên không có ý kiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016 về án phí lệ phí: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng vốn, ghi nhận không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu vợ ông K cùng trả nợ, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào caùc chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu trả số tiền vay, theo quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tây Ninh.

Ông K là bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K.

[2]. Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giao dịch giữa anh S với ông K là có thật, thể hiện có hợp đồng vay tài sản được lập ngày 16/3/2016 số tiền vay 100.000.000đ, thời hạn trả 90 ngày kể từ ngày 16/3/2016, lãi suất do hai bên thỏa thuận, theo anh S thì lãi suất tính 1%/tháng, ông K trả được 05 tháng tiền lãi, đến nay chưa trả vốn, nay yêu cầu ông S trả 100.000.000đ vốn, không tính lãi. Tại phiên tòa, anh S giữ ý kiến yêu cầu ông K trả vốn không tính lãi.

[3]. Đối với ông Đỗ Quang K, Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông K không đến Tòa án, không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án tham gia phiên họp và hòa giải, sau đó có bà Đặng Thị Yên là vợ ông K có nộp bản phô tô giấy xác nhận ông K có bệnh, nộp đơn yêu cầu tạm đình chỉ hồ sơ vụ án do ông Khai là người đứng đơn, trong đơn ông K nêu ra anh S yêu cầu ông trả 100.000.000đ, cho rằng do đây là tiền đầu tư, làm ăn chung chưa được quyết toán, các văn bản giấy tờ ông đang giữ, ngoài ra ông K không cung cấp giấy tờ gì khác, đến ngày 21/12/2018 ông K gửi đơn xin hoãn phiên tòa và cung cấp 01 giấy biên nhận thể hiện ngày 08/9/2016 anh S có nhận của ông K số tiền 20.000.000đ là tiền lãi của 04 tháng.

Tuy nhiên tính lãi suất trong hạn theo hợp đồng hẹn 90 ngày trả vốn, kể từ ngày 16/3/2016 và lãi suất quá hạn theo quy định của pháp luật thì trên số tiền ông K đã trả cho anh S 20.000.000 đồng theo giấy nhận tiền lãi ngày 08/9/2016. Do đó anh S chỉ yêu cầu ông K trả vốn 100.000.000 đồng, không tính lãi là có lợi cho ông K.

[4]. Ngoài ra ông K nêu ra có đầu tư làm ăn với anh S nhưng không cung cấp được chứng cứ, anh S có cung cấp bản phô tô hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 22/12/2017 giữa ông K và anh S, ông K ủy quyền cho anh S đến Chi cục Thi hành án huyện DMC để bổ sung văn bản giấy tờ ký tên nhận tiền thi hành án do ông K được nhận theo quyết định số 53/2017/QĐST-DS ngày 20/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện DMC đối với bên phải thi hành án là ông Phạm Quốc Anh, được xác định hợp đồng ủy quyền này không liên quan đến hợp đồng vay tiền giữa ông K và anh S, nên hợp đồng ủy quyền có phát sinh tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Do đó, căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S, buộc ông K có nghĩa vụ trả cho anh S số tiền 100.000.000 đồng vốn, ghi nhận anh S không yêu cầu tính lãi và không yêu cầu vợ ông K cùng trả nợ.

[5]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở phù hợp với những tình tiết nêu trên.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000 đồng.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn đã nộp khi khởi kiện.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Quang S.

2. Buộc ông Đỗ Quang K có nghĩa vụ trả cho anh Lê Quang S số tiền 100.000.000 đồng vốn.

Ghi nhận anh S không tính lãi và không yêu cầu vợ ông K cùng trả nợ.

Kể từ ngày anh S có đơn yêu cầu Thi hành án nếu ông K không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng ông K còn phải trả cho anh S số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Án phí: Ông K phải chịu 5.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho anh Lê Quang S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.975.000 đồng theo biên lai thu số 0019201 ngày 22/5/2018.

4. Quyền kháng cáo: Anh S được quyeàn khaùng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông K vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/DSST ngày 15/01/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:01/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về