Bản án 01/2019/HS-PT ngày 15/01/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 01/2019/HS-PT NGÀY 15/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/2019/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Trần Minh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2018/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Minh H, sinh năm 1991 tại huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm .., xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc Kinh; giới tính Nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị T2; chưa có vợ; Không có tiền án, tiền sự; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian diễn ra vòng chung kết bóng đá thế giới từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 7 năm 2018 biết Trần Văn T3 có nhu cầu cá độ bóng đá nên Trần Minh H thường xem tỷ lệ cá cược các trận đấu trên mạng Internet (gọi tắt là kèo) sau đó dùng điện thoại liên lạc với Trần Văn T3 để cá độ bóng đá được thua bằng tiền. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: tại trận đấu giữa hai đội tuyển Pháp và Uruguay diễn ra vào hồi 21 giờ ngày 06/7/2018, Trần Văn T3 dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 có lắp số sim 0977208… gọi điện trao đổi cá độ và hỏi tỷ lệ các kèo cá độ đối với Trần Minh Hữu qua số sim 0962966… và 0943241… lắp trong điện thoại di động Nokia 105, sau đó T3 cá độ hai kèo bóng đá với H gồm:

Kèo thứ nhất: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 06/7/2018 T3 gọi điện thoại hỏi và được H thông báo các kèo cá độ trong trận đấu giữa hai đội Pháp - Uruguay, sau đó T3 đặt cược với H kèo “bắt Uruguay được chấp 1/2 ăn 95” số tiền 3.500.000 đồng, H đồng ý xác nhận với T3 nội dung cá độ trên, nghĩa là khi kết thúc hai hiệp chính nếu đội Pháp hòa hoặc thua Uruguay thì T3 sẽ thắng H 95% số tiền đã đặt cược, nếu đội Pháp thắng đội Uruguay từ 01 bàn trở lên thì T3 thua H số tiền đã đặt cược.

Kèo thứ hai: do là bạn bè quen biết nên ngoài Nguyễn Hoài N biết Trần Văn T3 có thể cá độ bóng đá cá được thua bằng tiền với người khác, N đã nhờ T3 cá độ hộ. Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2018, T3 gọi điện thoại cho N qua số sim 01638794… lắp trong máy điện thoại Nokia 1280 để hỏi N có tham gia cá độ trận đấu Pháp và Uruguay không, N nhờ T3 cá độ hộ kèo “bắt Pháp chấp 1/2 ăn 95” số tiền 10.000.000 đồng, T3 đồng ý rồi dùng điện thoại của mình liên lạc với H để đặt cược hộ N. H đồng ý và xác nhận và nội dung cá độ trên. Để ghi nhớ và xác nhận, T3 và H đã nhắn tin qua ứng dụng Zalo nội dung cá độ trên. Đối với kèo này thì T3 đứng ra cá cược với H hộ N, khi kết thúc hai hiệp chính nếu đội Pháp thắng Uruguay với cách biệt từ 01 bàn trở lên thì T3 thắng (tức là N thắng) 95% số tiền đã đặt cược, nếu đội Pháp hòa hoặc thua Uruguay thì T3 thua (tức N thua) H số tiền đã đặt cược. Sau khi cá độ kèo với H xong, T3 đã chụp ảnh qua màn hình điện thoại nội dung tin nhắn Zalo cá độ giữa T3 và H kèo này rồi gửi qua ứng dụng Mesenger để thông báo. N đồng ý và nhắn tin xác nhận.

Kết thúc hai hiệp chính, đội Pháp thắng đồi Uruguay 2- 0 nên T3 thua H số tiền 3.500.000 đồng, còn N thắng H số tiền 9.500.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền mà Trần Văn T3 và Trần Minh H đánh bạc ngày 06/7/2018 trong trận đấu này là 23.000.000 đồng, còn Nguyễn Hoài N đánh bạc số tiền 19.500.000 đồng. Tất cả số tiền trên giữa T3, H và N chưa thanh toán với nhau.

Lần thứ hai: Trước khi trận đấu giữa hai đội tuyển Anh và Thụy Điển diễn ra vào hồi 21 giờ 00 phút, ngày 07/7/2018, H sử dụng điện thoại thông báo cho T3 biết các kèo cá cược trong trận đấu trên để T3 lựa chọn cá độ. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi trận đấu còn khoảng 10 phút là kết thúc thời gian hai hiệp chính, H gọi điện cho T3 thông báo các kèo cá cược ở thời điểm hiện tại. Sau đó T3 đặt cược H kèo “Rung ăn 95” số tiền 3.000.000 đồng, thống nhất sẽ trả sau. H đồng ý và xác nhận việc cá độ trên. Nghĩa là tính từ thời điểm T3 đặt cược đến khi kết thúc hai hiệp chính nếu có từ 01 bàn thắng trở lên xảy ra thì H sẽ thua T3 95% số tiền cược. Kết quả tính từ thời điểm T3 đặt cược đến khi kết thúc hai hiệp chính không có bàn thắng nào xảy ra nên H thắng T3 số tiền 3.000.000 đồng. Do đó số tiền T3 và H đánh bạc trong trận đấu này ngày 07/7/2018 là 3.000.000 đồng. Số tiền này T3 và H chưa thanh toán với nhau.

Lần thứ ba: Tại trận đấu giữa hai đội Nga - Croatia diễn ra vào hồi 01 giờ 00 phút ngày 08/7/2018, H tiếp tục gọi điện cho T3 báo các kèo cá độ, sau đó T3 cá độ hai kèo bóng đá với H, cụ thể:

Kèo thứ nhất: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/7/2018, H điện thoại cho T3 sau đó T3 đặt cược với H kèo “Bắt Croatia chấp 1/2 ăn 95” số tiền là 10.000.000 đồng, H đồng ý và nhắn tin xác nhận, theo đó khi kết thúc hai hiệp chính nếu đội Croatia thắng đội Nga với tỷ số cách biệt 01 bàn trở lên thì T3 thắng H 95 % số tiền đã đặt cược, nếu đội Croatia hòa hoặc thua đội Nga thì T3 sẽ thua H số tiền đã đặt cược.

Kèo thứ hai: Khoảng 0 giờ 45 phút, ngày 08/7/2018 khi H gọi điện thông báo kèo tài trận đấu này thì T3 nhất trí cá độ với H kèo “Tài cả trận 2 hòa ăn 90” số tiền là 5.000.000 đồng, sau đó lại cá độ thêm kèo này số tiền là 3.000.000 đồng, tổng số tiền T3 cá độ với H tỏng kèo này là 8.000.000 đồng. Nghĩa là khi kết thúc hai hiệp chính nếu tổng số bàn thắng của cả hai đội từ 03 bàn trở lên thì T3 thắng H 90% số tiền đã đặt cược, nếu tổng số bàn thắng từ 01 bàn trở xuống thì T3 thua H số tiền đã đặt cược, nếu tổng số bàn thắng là 2 bàn thì T3 và H hòa nhau.

Khoảng 2 giờ 15 phút, ngày 08/7/2018, T3 đang ngồi tại quán “Lucky” ở xóm .., xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình xem trận đấu giữa hai đội Nga - Croatia đang diễn ra thì bị Công an huyện K tiến hành kiểm tra hành chính. Trần Văn T3 đã tự khai nhận hành vi cá độ bóng đá của mình và đồng phạm, do đó số tiền dùng đánh bạc giữa T3 và H trong kèo cá độ “Bắt Croatia chấp 1/2 ăn 95” là 10.000.000 đồng, trong kèo cá độ “Tài cả trận 2 hòa ăn 90” là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền T3 và H dùng để đánh bạc trong trận đấu này là 18.000.000 đồng. Số tiền này T3 và H chưa thanh toán với nhau.

Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ của T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu hồng - trắng có lắp số thuê bao 0977208…, 01 điện thoại di động nhãn hiệu FORME màu xanh. Thu của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen có lắp số thuê bao 01638794.... Thu của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh có lắp số thuê bao 0962966… và 0943241….

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2018/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Trần Văn T3 và Nguyễn Hoài N với mức hình phạt từ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đến 16 tháng tù, quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/12/2018 bị cáo Trần Minh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo Trần Minh H trong vụ án đã xác định, bị cáo Trần Minh H tham gia trong vụ án đồng phạm với vai trò tích cực, là người giữ vai trò chính, lôi kéo bị cáo T3 cùng phạm tội, phạm tội nhiều lần, số tiền đánh bạc mỗi lần tương đối lớn; bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, cá thể hóa vai trò của bị cáo trong đồng phạm, đánh giá về nhân thân, xem xét áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 tháng tù về tội "đánh bạc" là phù hợp không nặng. Bị cáo H phạm tội nhiều lần nên không đủ điều kiện để cho hưởng án treo; vì vậy yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Minh H là không được chấp nhận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng Hình sự, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Số tiền bị cáo H đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K 9.700.000 (Chín triệu bẩy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2013/0002305 ngày 08/01/2019 cần tiếp tục quản lý để thi hành án.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm đúng như bản án sơ thẩm đã nêu và xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi phạm tội đã nhận rõ tội lỗi của mình thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tự nguyện nộp một phần số tiền phạt bổ sung mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Minh H xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm hình phạt và cho bị cáo cải tạo tại địa phương, hứa sẽ chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Minh H là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các đồng phạm, phù hợp với vật chứng là những chiếc điện thoại các bị cáo sử dụng để nhắn tin cá độ các trận đấu bóng đá với nhau đã được thu giữ, biên bản kiểm tra nội dung các tin nhắn điện thoại liên quan đến việc cá độ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian diễn ra vòng chung kết giải bóng đá FI FA WORLD CUP thế giới năm 2018 vào các ngày 06, 07/7/2018 Trần Minh H đã hai lần sử dụng điện thoại di động nhắn tin qua lại nhận cá độ bóng đá được, thua bằng tiền với Trần Văn T3; lần 1 với tổng số tiền thắng, thua là 23.000.000 đồng, lần thứ 2 tổng số tiền thắng, thua là 18.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán với nhau thị bị Công an huyện K phát hiện bắt giữ. Hành vi đó của các bị cáo đã phạm tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Minh H xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, bị cáo Trần Minh H là người chưa có tiền án, lần đầu phạm tội nhưng trong vụ án bị cáo Trần Minh H tham gia trong đồng phạm với vai trò rất tích cực, là người giữ vai trò chính trực tiếp đứng ra làm chủ nhận cá độ các trận đấu bóng đá được thua bằng tiền, lôi kéo bị cáo Trần Văn T3 cùng phạm tội, phạm tội nhiều lần, số tiền đánh bạc mỗi lần tương đối lớn; bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất vụ án, cá thể hóa vai trò của bị cáo trong đồng phạm, đánh giá về nhân thân, xem xét áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 tháng tù về tội "đánh bạc" bằng với mức hình phạt của bị cáo Trần Văn T3 là phù hợp không nặng. Bị cáo H là người chủ mưu, phạm tội nhiều lần nên không đủ điều kiện để cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao '' Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo''; vì vậy yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Trần Minh H là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Số tiền bị cáo Trần Minh H đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K 9.700.000 (Chín triệu bẩy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2013/0002305 ngày 08/01/2019 cần tiếp tục quản lý để thi hành án.

[4] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận; Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Trần Minh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 60/2018/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình .

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Minh H 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Minh H nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K số tiền 9.700.000 (Chín triệu bẩy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2013/0002305 ngày 08/01/2019, cần tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án dân sự.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Trần Minh H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/01/2019./.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-PT ngày 15/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:01/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về