Bản án 01/2019/HS-ST ngày 08/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 08/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2018/TLST-HS ngày 19/9/2018 đối với bị cáo;

Trần Văn H, sinh năm 1965 tại Đồng Nai, Nơi cư trú: Số 132/172 đường A, phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn C (chết) và bà Lê Thị T (chết); có vợ là Nguyễn Thị Ngọc D (đã ly hôn); sống chung như vợ chồng với Đào Thị Bích L và có 01 con; tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số 06/1991/HSST ngày 17/01/1991 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 42 tháng tù về “Trộm cắp tài sản” và tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/6/2018, ngày 20/9/2018 bị cáo đã trốn khỏi nơi giam, đến ngày 08/12/2018 bị bắt theo lệnh truy nã, có mặt tại tòa;

- Bị hại: Nguyễn Phi L, sinh 1986, HKTT:Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 25/6/2018, Trần Văn H gọi điện thoại rủ Phạm Anh L1 đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài, L1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, L1 và H gặp nhau tại cổng sau Bến xe Miền Đông thuộc quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh, tại đây H đưa cho L1 dụng cụ phá khóa xe (gồm 01 thanh kim loại hình chữ L và 02 mũi kim loại tự chế), rồi H điều khiển xe mô tô biển số 52P8 - 3845 chở L1 đi theo đường QL1A hướng về Phan Thiết, để tìm xe máy nào để sơ hở không có người trông coi thì vào lấy trộm. Trên đường đi L1 đưa cho H 150.000 đồng để khi lấy trộm được xe thì H đổ xăng chạy về lại Tp. Hồ Chí Minh. Dọc đường đi H chỉ cho L1 nhiều chiếc xe để vào lấy trộm nhưng L1 không vào lấy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đến địa phận thôn An Vinh, Sông Phan, Hàm Tân, L1 quan sát thấy 01 chiếc xe VISON biển số 86B4 - 280.47 của anh Nguyễn Phi L, sinh 1986 (HKTT: thôn L, xã T, huyện H) đang dựng trong hiên nhà bà Tăng Thị Kim H1, sinh 1977, L1 liền nói với H “Chiếc xe còn cắm chìa khóa kìa, quay lại coi thử”. H quay xe đảo một vòng quan sát thấy trong nhà không có người. H chạy xe vào đường đất bên hông nhà bà H1 cho L1 xuống xe, rồi chạy xe ra phía trước nhà đứng chờ sẵn để máy nổ. L1 vào dắt chiếc xe mô tô 86B4 - 280.47 ra ngoài, khi đi được khoảng 03m thì bị bà H phát hiện truy hô nên L1 bỏ xe lại chạy ra chỗ H chờ sẵn nhảy lên xe, H tăng ga bỏ chạy về hướng ngã ba 46, đến ngã tư giao nhau giữa đường QL1A và QL55 thì rẽ phải vào đường QL55 chạy về hướng Tánh Linh, rồi tiếp tục rẽ phải vào đường mòn đất đỏ đến vườn Thanh Long của ông Võ Hoàng T (trú tại thôn T, xã S, huyện HT) cả hai xuống xe chạy bộ thì bị người dân bắt giữ giao cho Cơ quan Công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hàm Tân kết luận giá trị xe mô tô 86B4 – 280.47 là 15.250.000 đồng.

Vật chứng vụ án đã thu giữ gồm 01 thanh kim loại hình chữ L tròn đường kính 0,6cm, một cạnh dài 13cm, một cạnh dài 03cm; 01 thanh kim loại dài 05 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp; 01 thanh kim loại dài 06 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp; 01 xe mô tô 52P8 - 3845 + giấy đăng ký xe; 01 cái ví nâu; 01 điện thoại Nokia màu đen; 01 điện thoại OPPO màu đen và số tiền 415.000 đồng Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã chuyển Chi cục thi hành án quản lý chờ xử lý, hiện đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng và Biên lai thu tiền ngày 21/9/2018. Xe mô tô 86B4 - 280.47, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Phi L thường.

Về phần dân sự: Ông Nguyễn Phi L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo trạng.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 17/9/2018 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS;

Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo qua đó VKS giữ nguyên quyết định truy tố.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” mà còn vi phạm, trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 12 đến 18 tháng tù.

Đối với Phạm Anh L1, đã được Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử theo bản án số 28/2018/HSST ngày 31/10/2018.

Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại hình chữ L tròn đường kính 0,6cm, một cạnh dài 13cm, một cạnh dài 03cm; 01 thanh kim loại dài 05 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp; 01 thanh kim loại dài 06 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp là dụng cụ để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, 01 điện thoại Nokia màu đen đã được giải quyết tại bản án số 28/2018/HSST ngày 31/10/2018. Đối với 01 xe mô tô 52P8 - 3845 + giấy đăng ký xe là tài sản của gia đình Trần Văn H nhưng khi H sử dụng vào mục đích phạm tội thì gia đình không biết nên cần trả lại; 01 điện thoại OPPO màu đen là tài sản Trần Văn H nên trả lại cho H. Đối với số tiền 415.000 đồng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trần Văn H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khoảng 15 giờ ngày 25/6/2018, Trần Văn H đã cùng Phạm Anh L1 lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 86B4 - 280.47 có trị giá 15.250.000. Hành vi lén lút trộm cắp tài sản có giá trị như đã nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân căn cứ vào hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 86B4 - 280.47 có trị giá 15.250.000 để truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.

Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, trong đó Trần Văn H là người rủ rê lôi kéo và Phạm Anh L1 là người thực hành tích cực.

Đối với Phạm Anh L1, đã bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân tuyên phạt 18 (mười tám) tháng tù theo bản án số 28/2018/HSST ngày 31/10/2018.

[4] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về trộm cắp tài sản và tội trốn khỏi nơi giam giữ, nhưng vẫn vi phạm, trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo lện truy nã. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường kỷ cương, pháp luật, trốn tránh trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình, không thể hiện sự ăn năn hối cải. Vì vậy HĐXX cần xử lý thật nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự nên HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Với vật chứng vụ án là 01 xe mô tô biển số 86B4 - 280.47, hiện cơ quan cảnh sát điều tra huyện Hàm Tân đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Phi L.

01 thanh kim loại hình chữ L tròn đường kính 0,6cm, một cạnh dài 13cm, một cạnh dài 03cm; 01 thanh kim loại dài 05 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp; 01 thanh kim loại dài 06 cm, một đầu tròn hình lục giác đường kính 0,6cm và 01 đầu dẹp là dụng cụ để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, 01 điện thoại Nokia màu đen đã được giải quyết tại bản án số 28/2018/HSST ngày 31/10/2018.

Đối với 01 xe mô tô 52P8 - 3845 + giấy đăng ký xe là tài sản của gia đình Trần Văn H nhưng khi H sử dụng vào mục đích phạm tội thì gia đình không biết nên cần trả lại là phù hợp; đối với 01 cái ví màu nâu và 01 điện thoại OPPO màu đen là tài sản của Trần Văn H không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho H. Đối với số tiền 415.000 đồng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Vật chứng hiện đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/9/2018.

[7] Về dân sự người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bắt bị cáo, ngày 08/12/2018. Được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 25/6/2018 đến ngày 20/9/2018.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS.

Tuyên Tuyên trả lại cho Trần Văn H 01 xe mô tô 52P8 - 3845 + giấy đăng ký xe; 01 điện thoại OPPO màu đen và 01 cái ví màu nâu..

Tiếp tục tạm giữ số tiền 415.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng hiện đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/9/2018.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 08/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Tân - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về