Bản án 02/2012/HCST ngày 19/11/2012 về hủy hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND TP.Hạ Long

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 02/2012/HCST NGÀY 19/11/2012 VỀ HỦY HÀNH VI CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA UBND TP. HẠ LONG

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2012 lại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm cổng khai vụ án Hành chính thụ lý số 10/2012/TLST-HC ngày 23/5/2012 về “Hành vi cấp Giấy chứng nhạn quyén sử dụng đất đối với thửa đất số 46 và thừa đất số 55 tờ bản đồ số 125 mang số hiệu AĐ 160708 mang tên ông Trần Công Ngọc do UBNDTP Hạ Long cííp ngày 05/01/2006" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2012/QĐXX-HC ngày 02 tháng 11 năm 2012 giữa các đuơng sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trần Ngọc Lân, sinh năm 1928

Tru tại: Tổ 9 khu 7 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long- Quàng Ninh. Có nặt tại phiên toà.

Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Thụ, sinh năm 1960.Trú quán: Tổ 7 khu 6 phường Giếng Đáy- TP Hạ Long

Nơi làm việc: Văn phòng luật sư Trung Đức. Địa chỉ: số 506 Đường Hạ Long phường Giếng Đáy- TP Hạ Long- Quáne Ninh có mạt tại phiên toà.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long

Địa chỉ: Số 2 phố Bến Đoan phường Hồng Gai. thành phố Hạ Long, Quảng Ninh.

Đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện: Ông Đào Nam Thành, sinh năm 1973.

Trú quán: Tổ 9 khu 10 phường Quang Hanh- Thành phố Cẩm Phả Quảng Ninh. Chức vụ: Giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hạ Long. Theo Giấy ủy quyền số: 2140/UB-UBND ngày 17/7/2012 của UBND TP Hạ Long.Có mặt tại phiên toà.

3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ỏng Trần Công Ngọc, sinh năm 1948 và bà Dương Thị Đoan, sinh năm 1946. Trú quán: Tổ 4 khu 6 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long. Bà Dương Thị Đoan ủy quyền cho Ông Trần Công Ngọc, có mặt tại phiên tòa.

4. Người làm chứng: Ủy ban nhân dân phường Bãi Cháy- TP Hạ Long. Đại diện UBND phường Bãi Cháy: Ông Đỗ Quang Phan, sinh năm 1976

Trú quán: Tổ 7 khu 3 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long. Chức vụ: Cán bộ địa chính phường Bãi Cháy- TP Hạ Long có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 02/02/2012 và bản tự khai của người khởi kiện ông Trần Ngọc Lân trình bày như sau: Năm 1965 gia đình tôi chuyển từ Hòn Gai sang Bãi Cháy và được UBHC thị xã Hòn Gai cấp Giấy phép xây dựng cho phép làm một gian nhà ranh tại Cai Dăm Bãi Cháy trên diện tích đất 165m2 (Nay là thửa số 46 tờ bản đồ 125 thuộc Tổ 4 khu 6 phường Bãi Cháy) với yêu cầu khi nào xây dựng vĩnh viễn thì phải xin phép. Sau đó tôi dựng một ngôi nhà và ở đó một thời gian. Năm 1968 do điều kiện chiến tranh nhà tôi phải tháo dỡ theo yêu cầu của UBHC thị xã Hòn Gai và chuyển về ở tại khu 3 phường Bãi Cháy nhưng gia đình tôi vẫn đi về trông nom mảnh đất của mình, trồng cây và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước đối với mảnh đất trên. Năm 1996 khi tôi chuẩn bị vật liệu làm nhà theo quy định của uỷ ban thị xã. tôi làm đơn gửi chính quyền địa phương xin phép xây dựng nhà tại Tổ 4 khu 6 phường Bãi Cháy (Tại thửa 46 tờ bản đồ số 125) Đơn của tôi đã được chủ tịch UBND phường Bãi Cháy xác nhận và gửi UBND thị xã Hòn Gai để giải quyết. Nhưng đúng thời gian tôi xin phép xây dựng làm nhà trên đất của gia đình tôi thì gia đình ông Trần Công Ngọc (Hộ liền kề) đã nhận thửa đất trên là đất của ông Ngọc và bắt đầu có tranh chấp về mảnh đất trên.

Trong suốt thời gian từ năm 1996 tôi đã rất nhiều lần làm đơn khiếu nại, kiến nghị gửi đi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề nghị xem xét cho tôi được xây dựng nhà trên đất của mình nhưng không được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoậc giải quyết không đúng cho gia đình tôi.

Năm 2003 đế giải quyết đơn khiếu nại của tôi UBND thành phố Hạ Long đã ra Quyết định 1358/QĐ-UB ngày 31/10/2003. quyết định không chấp nhận đơn khiếu nại đòi quyền sử dụng đất thửa 46, 55 tờ bản đồ 125 phường Bãi Cháy. Nhưng đơn khiếu nại của tôi chỉ đòi thửa đất số 46 với diện tích khoảng 165m2. Do nhầm lẫn về đối tượng khiếu nại của tôi nên tôi tiếp tục khiếu nại lên UBND tỉnh Quảng Ninh.

Sau đó tôi nhận được Quyết định 2517/QĐ-UB ngày 27/7/2004 của UBND tỉnh Quảng Ninh có nội dung: Không chấp nhận đơn khiếu nại của tôi về việc đòi được sử dụng thửa đất số 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long. Trong Quyết định giải quyết khiếu nại chỉ nói không chấp nhận việc đòi quyền sử dụng với thửa đất 55 chứ không nhắc đến thửa 46 (Thửa mà tôi đòi trong đơn khiếu nại) Vậy đương nhiên UBND tỉnh Quảng Ninh đã chấp nhận việc đòi thửa đất số 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy của tôi. Sau Quyết định 2517/QĐ-UB ngày 27/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh thì UBND phường Bãi Cháy và UBND TP Hạ Long vẫn không tổ chức khôi phục quyền sử dụng cùng những lợi ích hợp pháp của gia đình tôi đối với mảnh đất trên. Trong khi chưa khôi phục trả lại đất cho tôi thì năm 2006, UBND TP Hạ Long lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa 46 và 55 cho ông Trần Công Ngọc. Việc UBND TP Hạ Long lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa 46 và 55 cho ông Trần Công Ngọc ngày 05/1/2006 khi đất vẫn đang có tranh chấp đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật đất đai. Vì vậy đến nay tôi vẫn chưa đòi được quyền sử dụng đất đối với thửa đất 46 tờ bản đồ 125 phường Bãi Cháy. Từ đó đến nay tôi liên tục gửi đơn khiếu nại và kiến nghị tới cơ quan có thẩm quyền để xem xét. giải quyết nhưng không được trả lời. Nay tôi khởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long. yêu cầu:

1. Huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 25169 cấp ngày 05/01/2006 mang tên ông Trần Công Ngọc.

2. Buộc UBND TP Hạ Long khôi phục quyền sử dụng đất thửa 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy diện tích 165 m2 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên tôi Trần Ngọc Lân.

Đại diện ủy quyền của người bị kiện: Ông Đào Nam Thành. chức vụ: Giám dốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hạ Long trình bày: UBND thành phố Hạ Long đã nhận được đơn khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân về việc cấp Giấy CNQSD đất đối với hai thửa đất 46,55 hộ ông Trần Công Ngọc.

Căn cứ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ông Trần Công Ngọc thấv: Gia đình ông Ngọc đã đăng ký hộ khẩu tại thửa đất số 46 bản đồ số 125 phường Bãi Cháv mang tên ông Trần Công Ngọc từ ngày 18/10/1973.

Năm 1996 ông Trần Ngọc Lân đến để tranh chấp thửa dất trên với lý do gia đình đã có Giấy cho phép xây dựng tạm thời số 06-ĐT/KT ngày 23/3/1965 của phòng kiến trúc UBHC thị xã Hòn Gai. Qua kiểm tra thấy: Không xác định được vị trí cụ thể. không xác định được diện tích là bao nhiêu mét vuông và không có cơ sở xác định là cấp tại thửa đất số 46 hay thửa 55 tờ bản đồ địa chính số 125 phường Bãi Cháy. Mặt khác Giấy phép trên là Giấy phép xây dựng tạm thời để đáp ứng nhu cầu xây dựng tạm (Thời diểm năm 1965). Năm 1968 gia đinh ông Lân đã chuyển đi nơi khác ở, không sử dụng.

Việc ông Lân đòi quyền sử dụng đất tại thửa dất trên đã dược UBND phường Bãi Cháy, UBND TP Hạ Long; UBND tỉnh Quàng Ninh giải quyết và trả lời nhiều lần. Qua 3 cấp giải quyết đều không công nhận ông Trần Ngọc Lân có quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy. Ngày 27/7/2004 UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2517 không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Lân.

Do vậy việc UBND TP Hạ Long cấp Giấy CNQSD đất số AĐ 160708 ngày 05/01/2006 cho ông Trần Công Ngọc là đúng.

Việc thu hồi Giấy CNQSD đất trong trường hợp này được quy định tại mục 3 Điều 42 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004: Trường hợp đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân là được thi hành. Việc ông Trần Ngọc Lân đòi dược cấp Giấy CNQSD đất tại thửa đất số 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy là không có cơ sở thực hiện.

Người co quyền và nghĩa vụ liên quan ông Trần Công Ngọc trình bày: Nguồn gốc thừa đất số 46, 55 tờ bản đồ số 125 tại Tổ 4 khu 6 phường Bãi Cháy như sau:

Nam 1969 tôi có xin của Ông Ngô Đình Tân là cán bộ cùng xí nghiệp đóng tàu khoảng hơn 100m2 đất để trồng trọt và làm nhà ở. Thời gian này tôi đã khai phá và tôn tạo, mở rộng thêm diện tích đất. Đến năm 1973 tôi đã xây 01 ngôi nhà cấp 4 khoảng 54m2 trên diện tích đất mà ông Tân đã cho tôi.

Năm 1998 UBND phường Bãi Cháy đã có Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và giao nhận diện tích đất theo hiện trạng sử dụng. Tại thời điểm này tôi đã kê khai hai thửa đất số 46 và 55, tờ bản đồ số 125. Tổng diện tích hai thửa là 398+ 203. Từ năm 1993 tôi đã làm nghĩa vụ nộp thuế nhà đất với Nhà nước cho hai thửa đất số 46 và 55. Ngày 20/11/2005 UBND phường Bãi Cháy có làm Biên bản kiểm tra thực địa (Nhà ở, đất ở) cho hai thửa đất số 46 và 55 có sơ dồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng diện tích hai thửa đất 614.9 m2.

Năm 1996 thì ông Lân đến nói với tôi là xin lại đất để làm nhà cho con mà tôi đang quản lý và sử dụng. Tôi không đồng ý nên sau đó ông Lân làm đơn kiện đến UBND phường Bãi Cháy, UBND TP Hạ Long

Ngày 31/10/2003 UBNDTP Hạ Long đã có QĐ 1358; ngày 27/7/2004 UBND tỉnh Quảng Ninh đã có Quyết định giải quyết khiếu nại số 2517.

Đất của gia đình tôi sử dụng ổn định, lâu dài và có nguồn gốc hợp pháp từ năm 1969 đối với hai thửa 46, 55. Từ năm 1996 ông Lân đến tranh chấp và đã được các cấp UBND giải quyết. Nên ngày 05/01/2006 của UBND TP Hạ Long đã cấp Giấy chứng nhận quyến sử dụng đất cho tôi là đúng, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó việc ông Trần Ngọc Lân khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 05/01/2006 của UBND TP Hạ Long mang tên Trần Công Ngọc và Dương Thị Đoan là không có căn cứ.

Ủy ban nhân dân phường Bãi Cháy-TP Hạ Long, đại diện ông Đào Quang Phan trình bày:

Thửa đất số 46, 55 tờ bản đồ số 125 tại Tổ 4 khu 6 phường Bãi Cháy của ông Trần Công Ngọc có nguồn gốc như sau: Năm 1969 ông Trần Công Ngọc có xin của ông Ngô Đình Tân là cán bộ cùng xí nghiệp đóng tàu khoảng hơn 100m2 đất để trồng trọt và làm nhà ở. Sau đó ông Ngọc đã khai phá và tôn tạo, mở rộng thêm diện tích đất. Đến năm 1973 ông Ngọc đã xây 01 ngôi nhà cấp 4 khoảng 54m2 trên diện tích đất mà ông Tân đã cho.

Năm 1998 UBND phường Bãi Cháy đã có Biên bản xác định ranh giới, mốc giới và giao nhận diện tích đất theo hiện trạng sử dụng. Tại thời điểm này, ông Ngọc đã kê khai hai thửa đất số 46 và 55, từ bản dổ số 125. Tổng diện tích hai thửa là 398+ 203. Từ năm 1993 ông Ngọc đã làm nghĩa vụ nộp thuế nhà đất với Nhà nước cho hai thửa đất số 46 và 55. Ngày 20/11/2005 UBND phường Bãi Cháy có làm BỊên bản kiểm tra thực địa (Nhà ở, đất ở) cho hai thửa đất số 46 và 55 có sơ đồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng diện tích hai thửa đất 614.9m2.

Sau khi UBND phường Bâi Cháy hoàn thiện thủ lục xét duyệt đơn xin cấp Giấy CNQSD đất cho hộ Trân Công Ngọc thì chuyển hồ sơ lên phòng tài nguyên môi trường thành phố Hạ Long để thẩm định và trình UBND TP Hạ Long đã cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Trần Công Ngọc theo quy định. Ngày 05/01/2006 UBND TP Hạ Long đã cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Trần Công Ngọc đối với hai thửa đất số 46, 55 tờ bản đồ địa chính số 125 phường Bãi Cháy.

Tại phiên tòa: Người khởi kiện ỏng Trần Ngọc Lân vẫn giữ quan điểm khởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long, yêu cầu:

I Huy bỏ Giay chứng nhộn quyt'n sử dụng diít đối với cả hill Ihiíí il.il số 46 và 55 ị ờ bản dò 125 niung số hiộu AĐ 160708 vào sổ cấp Giííy CNỌSI) I lì 6 25169 c.1p ngày 05A) I/2006 mung tôn ỏng Tr.1n Công Ngọc.

1. Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 25169 cấp ngày 05/01/2006 mang tên ông Trần Công Ngọc.

2. Buộc UBND TP Hạ Long khôi phục quyền sử dụng đất thửa số 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy diện tích 165m2 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên tôi Trần Ngọc Lân.

Đại diện uỷ quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Thụ: Đồng ý với ý kiến của ông Trần Ngọc Lân.

Ông Trần Công Ngọc: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 25169 cấp ngày 05/01/2006 của UBND thành phố mang tên ông Trần Công Ngọc, bà Dương Thị Đoan là đúng. Tôi đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện UBND phường Bãi Cháy ông Đỗ Quang Phan: UBND phường Bãi Cháy hoàn thiện thủ tục xét duyệt đơn xin cấp Giấy CNQSD đất cho hộ Trần Công Ngọc thì chuyển hồ sơ lên phòng tài nguyên môi trường thành phố Hạ Long để thẩm định và trình UBND TP Hạ Long cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Trần Công Ngọc theo quy định, đúng pháp luật.

Đại diện ủy quyền của người bị kiện ông Đào Nam Thành giữ nguyên quan điểm của UBND TP Hạ Long. Việc ổng Trần Ngọc Lân khởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long, yêu cầu:

1. Huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bân đồ 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 25169 cấp ngày 05/01/2006 mang tên ông Trần Công Ngọc.

2. Buộc UBND TP Hạ Long khôi phục quyền sử dụng đất thửa số 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy diện tích 165m2 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên tôi Trần Ngọc Lân là không có căn cứ để chấp nhận UBND TP Hạ Long cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Công Ngọc là đúng pháp luật.

Tại phiên toà: Đại diện viện kiểm sát thành phố Hạ Long phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tổ tụng, các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính dược thực hiện theo đúng pháp luật.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hổ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kếl quà tranh luạn tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về Giấy phép xây dựng tạm thời số 06/ĐT-KT ngày 23/3/1965 của UBHC Ihị xã Hồng Gai của ông Trần Ngọc Lân:

Tại Công văn số 647/CV-ĐC ngày 31/5/1995 và Công văn số 1427 ngày 13/10/1995 của Tổng cục địa chính thì Giấy phép xây dựng tạm thời số 06/ĐT-KT ngày 23/3/1965 của UBHC thị xã Hồng Gai. Đây không phải là các loại giấy quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 5 Luật đất đai năm 2003 để xem xét cấp.

Trong Giấy phép xây dựng tạm thời số 06/ĐT-KT ngày  23/3/1965 của UBHC thị xã Hồng Gai không thể hiện gia đình ông được cấp tại vị trí cụ thể nào và không ghi rõ diện tích bao nhiêu do đó không có căn cứ khẳng định ông Lân được cấp Giấy phép xây dựng thuộc thửa đất 46 hay thửa đất 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy. Việc ông Trần Ngọc Lân đòi quyền được sử dụng hai thửa đất 46 và 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy đã được UBND phường Bãi Cháy. UBND thành phố Hạ Long và UBND tỉnh Quảng Ninh giải quyết và trả lời.

Năm 1965 ông Lân có làm nhà tranh trên khu đất mà hiện nay ông Ngọc đang quản lý nhưng ông Lân chưa được Cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng đất. Năm 1968: Gia đình ông Lân đã chuyển đến khu 7 phường Bãi Cháy ở ổn định và đang quản lý sử dụng 643,4 m2 đất.

Năm 1970,1971 Xí nghiệp đóng tàu Hạ Long có đặt máy tiện trên mảnh đất mang số thửa 55 tờ bản đồ 125 phường Bãi Cháy.

Đến năm 1998 ông Trần Công Ngọc đăng ký và nộp thuế đất đối với hai thửa 46, 55 tờ bản đồ 125 phường Bãi Cháy.

Tại Biên bản làm việc ngày 11/3/2004 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh làm việc với ông Trần Công Ngọc; Biên bản làm việc ngày 15/3/2004 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh làm việc với ông Trần Ngọc Lân; Biên bản làm việc ngày 13/4/2004 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh làm việc với UBND phường Bãi Cháy và khu phố 6; Biên bản xác minh ngày 31/3/2004 của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh xác định: Thửa đất 46,55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy có nguồn gốc của ông Trần Công Ngọc.

Quá trình làm đơn khiếu nại: UBND phường Bãi Cháy đã trả lời đơn của ông Trần Ngọc Lân. Ngày 31/10/2003 UBND TP Hạ Long đã ra QĐ số 1358/QĐ-UB Không chấp nhận đơn khiếu nại đòi quyền sử dụng đất thửa 46, 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy (Hiện do ông Trần Công Ngọc đang quản lý) của ông Trần Ngọc Lân. Giữ nguyên CV số 931/UB ngày 29/8/2003 của Chủ tịch UBND TP Hạ Long.

Không đồng ý với QĐ số 1358/QĐ-UB ngày 31/10/2003 của UBND thành phố Hạ Long, ngày 01/1/2004 ông Lân tiếp tục khiếu nại tới UBND tỉnh Quảng Ninh với yêu cầu: Xin phép làm nhà ở và đòi Quyền sử dụng đất thửa số 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy mà ông Lân đã khai phá đất dời và được cấp Giấy phép từ năm 1965.

Sau khi nhận đơn Khiếu nại ngày 01/1/2004, Thanh tra tỉnh Quảng Ninh đã có Kết quả xác minh và kết luận kiến nghị giải quyết đơn khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân tại Báo cáo số 18/BC-TTr ngày 20/5/2004 và Đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh trả lời đơn khiếu nại đối với ông Trần Ngọc Lân.

Ngày 27/02/2009, UBND tỉnh Quảng Ninh có công văn số 549/UBND-TD ngày 27/02/2009 trả lời khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân: Nội dung khiếu nại của ông đòi quyền sử dụng thửa đất số 46, 55 tờ bản đồ địa chính số 125 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long là không có cơ sở giải quyết.

Ngày 27/7/2004, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra QĐ số 2517/QĐ-UB ngày 27/7/2004 trả lời đơn khiếu nại của ông Lân với nội dung: Đồng ý với QĐ 1358/QĐ-UB ngày 31/10/2003 của UBND TP Hạ Long về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân. Không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân đòi được sử dụng thửa đất số 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy- TP Hạ Long

Sau khi có QĐ 2517/QĐ-UB ngày 27/7/2004 của UBND tỉnh Quảng Ninh. hộ ông Trần Công Ngọc làm hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất đối với hai thửa 46, 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy-TP Hạ Long. Ngày 05/01/2006 UBND TP Hạ Long ra Quyết định số 11/QĐ-UB v/v cấp Giấy CNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân cho 46 hộ gia đình cá nhân tại phường Bãi Cháy- TP Hạ Long. Họ tên, địa chỉ của người được cấp Giấy, địa chi cấp giấy; diện tích đất cho từng mục đích và thời hạn sử dụng được ghi trong danh sách trích ngang kèm theo.

Về thủ tục tố tụng: Trong đơn khởi kiện ông Trần Ngọc Lân gửi kèm theo 01 Giấy phép xây dựng tạm thời ngày 23/3/1965 do UBHC thị xã Hồng Gai cấp; 01 Công văn số 4953/UBND-TD ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Quảng Ninh v/v giải quvết đơn khiếu nại của ông Trần Ngọc Lân; đơn khiếu nại gửi UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 15/6/2009; đơn khiếu nại gửi UBND TP Hạ Long ngày 06/10/2008; đơn kiến nghị ngày 11/12/2008; 01 Biên lai thu thuế nhà đất ngày 10/10/1993; QĐ 1358 ngày 31/10/2003 của UBND TP Hạ Long; QĐ 2517 ngày 27/7/2004 của UBND tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 02/8/1996, ông Trần Ngọc Lân gửi đơn tới UBND phường Bãi Cháy xin xây dựng mội ngôi nhà cấp 4 trên nền nhà cũ của ông Lân tại khu 6 phường Bãi Cháy. Từ năm 1996 đến năm 2009 ông Lan đã làm đơn khiếu nại tới các cơ quan có thẩm quvển và đã được trả lời.

Như vậy; Đối tượng khởi kiện trong vụ án phù hợp với Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Từ những căn cứ ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Ông Trần Ngọc Lân có khiếu nại thửa đất 46, 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy từ năm 1996 đến năm 2009. Việc khiếu nại thửa đất 46, 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy đã được UBND phường Bãi Cháy, UBND TP Hạ Long và UBND tỉnh Quảng Ninh giải quyết đúng theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Công Ngọc và bà Dương Thị Đoan là đúng pháp luật, phù hợp với quy định của Luật đất đai. Nay ông Trần Ngọc Lân khởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long, yêu cầu:

1. Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa đất 46 và 55 tờ bản đồ số 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD số 25169 cấp ngày 05/01/2006 mang tên ông Trần Công Ngọc.

2. Buộc UBND TP Hạ Long khôi phục quyền sử dụng đất đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy diện tích 165 m2 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Công Ngọc.

Việc ông Trần Ngọc Lân kkhởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long là không có căn cứ pháp luật nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 6, Khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003

Điều 27; Điều 163; Điều 164; Điều 176 Luật tố tụng hành chính 

Pháp lệnh án phí, lệ phí số 10/2009/PL ngày 27 tháng 02 năm 2009, Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 thi hành Luật tố tụng hành chính, NQ 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

Không chấp nhận đơn khởi kiện về hành vi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật của UBND thành phố Hạ Long của ông Trần Ngọc Lân, yêu cầu:                                                

1. Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng dát đối với cả hai thửa đất số 46 và 55 tờ bản đồ số 125 mang số hiệu AĐ 160708 vào sổ cấp Giấy CNQSD đất số 25169 cấp ngày 05/01/2006 mang tên ổng Trần Công Ngọc.

2. Buộc UBND TP Hạ Long khôi phục quyền sử dụng đất thửa số 46 tờ bản đồ số 125 phường Bãi Cháy diện tích 165m2 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên tôi Trần Ngọc Lân

Về án phí hành chính sơ thẩm: Buộc ông Trần Ngọc Lân phải nộp án phí hành chính sơ thẩm số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng). Ông đã nộp tiền tạm ứng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004584 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long (Ông Nguyễn Văn Thụ nộp thay)

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người khởi kiện; đại diện ủy quyền của người khởi kiện; đại diện theo ủy quyền của người bị kiện; người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Báo những người có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


215
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2012/HCST ngày 19/11/2012 về hủy hành vi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND TP.Hạ Long

Số hiệu:02/2012/HC-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:19/11/2012
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về