Bản án 02/2018/DSST ngày 08/02/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 02/2018/DSST NGÀY 08/02/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 08 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2017/TLST - DS ngày 17 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST - DS ngày 05 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T; địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà R, số 9, Đoàn Văn B, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên, (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T - Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ - Khối quản trị rủi ro - Công ty tài chính TNHH MTV ngân hàng Việt Nam T; địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà R, số 9, Đoàn Văn B, phường 12, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, (Vắng mặt).

Người được ủy quyền lại: Bà Đường Thị H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số nhà 60, đường L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phùng Văn T, sinh năm 1973; Trú tại: Thôn 4, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19/9/2017 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn bà Đường Thị H trình bày:

Ngày 05/7/2015, anh Phùng Văn T có ký với Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T (sau đây gọi tắt là Công ty) Hợp đồng tín dụng số 20150705 - 128028 - 0001 vay 30.384.000đồng. Mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân, hình thức vay là tín chấp không có tài sản bảo đảm. Thời hạn trả là 16 tháng. Lãi suất vay là 4,17%/tháng. Theo đó, tổng cộng anh T phải trả cho Công ty tài chính số tiền cả gốc và lãi là 42.234.000 đồng, trong 15 tháng đầu mỗi tháng anh T phải trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T số tiền 2.640.000 đồng, và tháng cuối anh T phải trả 2.634.000đồng. Kỳ thanh toán là vào ngày 08 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 08/08/2015. Anh T có nộp cho Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T bản sao sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân.

Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T đã giải ngân số tiền vay theo Hợp đồng cho anh T và anh T đã nhận đủ số tiền vay.Quá trình vay, anh T đã trả được cho Công ty được 07 lần, tổng số tiền là 18.504.000 đồng trong đó trả nợ gốc là 10.907.304 đồng và trả nợ lãi là 7.596.696 đồng. Kể từ ngày 18/02/2016 đến nay, anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không trả được thêm khoản nào cho Công ty nữa.

Nay Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Phùng Văn T phải thanh toán cho Công ty số tiền còn nợ tính đến ngày 08/02/2018 tổng số tiền là 23.730.000 đồng (trong đó nợ gốc là 19.476.696 đồng và nợ lãi là 4.253.304 đồng).

Bị đơn ông Phùng Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 02/11/2017, Biên bản lấy lời khai ngày 02/11/2017, Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/11/2017 anh trình bày: Do nhu cầu tiêu dùng cá nhân nên anh đã ký kết Hợp đồng tín dụng vay vốn và ký kết Hợp đồng thế chấp theo như đại diện Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T đã trình bày là đúng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty tài chính đã giải ngân cho anh vay 30.384.000 đồng, anh đã nhận đủ số tiền vay và đã trả được cho Công ty tài chính 07 lần, tổng số tiền là 18.504.000đồng. Kể từ ngày 18/02/2016 đến nay, anh không trả được thêm khoản nào cho Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T nữa vì lý do anh làm ăn khó khăn về kinh tế nên không có tiền trả nợ cho Công ty tài chính. Nay Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T khởi kiện anh phải trả Công ty tài chính số tiền còn nợ. Quan điểm của anh là nhất trí với số nợ mà Công ty tài chính khởi kiện anh. Anh đồng ý sẽ trả nợ cho Công ty nhưng vì chưa có tiền nên anh xin Công ty tạo điều kiện cho anh mỗi tháng trả 10.000.000 đồng gốc và miễn lãi cho anh.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày quan điểm như sau:

Về tố tụng: Quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ Thẩm phán đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, Người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường không có yêu cầu hay kiến nghị gì.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Phùng Văn T phải trả cho Ngân hàng 23.730.000 đồng (trong đó nợ gốc là 19.476.696 đồng và nợ lãi là 4.253.304 đồng). Nếu anh T không trả được thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng" giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T và anh Phùng Văn T theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Về sự vắng mặt của anh anh Phùng Văn T đã có biên bản lấy lời khai, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phùng Văn T

[3]. Về nội dung vụ án:

Ngày 05/7/2015 Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T cho anh T vay 30.384.000 đồng, thời hạn trả là 16 tháng, lãi suất vay là 4,17%/ tháng. Theo đó, tổng cộng anh T phải trả cho Công ty tài chính số tiền cả gốc và lãi là 42.234.000 đồng, trong 15 tháng đầu mỗi tháng anh T phải trả 2.640.000 đồng, còn tháng cuối cùng anh T phải trả 2.634.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng anh T đã trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên 07 lần, tổng số tiền là 18.504.000đồng.

Xét thấy việc Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T và anh Phùng Văn T ký kết hợp đồng vay tiền và thỏa thuận mức lãi suất đối với khoản vay là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Phía anh T không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên buộc anh Phùng Văn T phải trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên tổng số tiền gốc và lãi chưa trả là phù hợp quy định của pháp luật tại các Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phùng Văn T phải chịu 1.118.000 đồng (23.730.000 đồng x 5%) theo quy định của pháp luật. Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 593.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 280, 463, 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/2010/TT - NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T đối với anh Phùng Văn T.

Buộc anh Phùng Văn T phải trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T 19.476.696 tiền gốc và 4.253.304 đồng tiền lãi tổng cộng là 23.730.000 (Hai mươi ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Anh Phùng Văn T phải chịu 1.118.000 (Một triệu một trăm mười tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Công ty tài chính TNHH một thành viên ngân hàng Việt Nam T số tiền 593.000đ (Năm trăm chín mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2016/0003860 ngày 17/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


122
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về