Bản án 02/2018/DSST ngày 19/12/2018 về kiện đòi tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 02/2018/DSST NGÀY 19/12/2018 VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 19/12/2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2018/TLST-DS ngày 20/8/2018 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2018/QĐXX-ST ngày 13/11/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2018/QĐHPT-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Anh Phạm Xuân H – sinh năm 1984

Trú tại: Xóm 17, thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Hiện ở: Tổ 4, khu 7, phường Hà Tu, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đào Bá Y – sinh năm 1966; Có mặt tại phiên tòa.

2- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1963

Trú tại: Tổ 7, khu 4, phường H, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 2007 do có nhu cầu mua đất để xây nhà ở, anh H được mọi người giới thiệu và được biết chị Nguyễn Thị T- trú tại: Tổ 7, khu 4, phường H, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có đất bán. Anh H đến đặt vấn đề mua đất với chị T và chị T đã đồng ý bán cho anh H một lô đất (Chị T nói với anh H là chị mua của anh Nguyễn Quang C trú tại tổ 19, khu 2, phường H, TP.Hạ Long, do Công ty than Núi Béo bồi thường di chuyển cấp cho anh C). Vì tin tưởng chị T nên anh H đã mua lô đất trên của chị T với giá 118.000.000đồng, anh H đã giao đủ số tiền trên cho chị T, đồng thời hai bên đã viết giấy biên nhận. Tuy nhiên sau nhiều năm anh H vẫn không nhận được đất. Đến hỏi chị T thì chị T nói: “...Thuận mua vừa bán, tôi mua của người ta thế nào thì tôi bán thế...”. Anh H đã yêu cầu chị T trả lại tiền nhưng chị T không trả. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị T phải trả lại anh H số tiền 118.000.000đ mà chị T đã nhận của anh H.

Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của anh H, buộc chị T phải trả lại cho anh H số tiền là 118.000.000đồng.

Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành giao Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị T (là bị đơn trong vụ án) để chị T đến Tòa án làm việc và tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, nhưng chị T không nhận bất cứ văn bản tố tụng nào của Tòa án, Tòa án đã tiến hành lập các biên bản về việc từ chối nhận văn bản tố tụng của chị T. Chị T biết việc Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án và biết mình đang với tư cách là bị đơn trong vụ án nhưng chị T không đến Tòa án làm việc, không hợp tác làm việc, không có bản tự khai nên không có quan điểm giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên không có lời khai.

*/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa anh Phạm Xuân H và chịNguyễn Thị T là "Tranh chấp về kiện đòi tài sản" Tộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà ngày 28/11/2018, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án khi vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ kiện:

Tại Giấy chuyển nhượng đất ngày 26/12/2007 giữa chị Nguyễn Thị T với anh Phạm Xuân H thể hiện: Hiện nay chị T có 01 xuất đất tái định cư mua của anh Nguyễn Quang C (tổ 19, khu 2, phường H) do Công ty cổ phần than Núi Béo bồi thường di chuyển cấp, anh C đã chuyển nhượng cho chị, nay chị chuyển nhượng lại cho anh H.

Tại Giấy chuyển nhượng đất tái định cư ngày 18/12/2007 giữa anh Nguyễn Quang C và chị Nguyễn Thị T thể hiện: Tôi (C) có một xuất tái định cư do Công ty than Núi Béo bồi thường di chuyển cấp. Nay vì điều kiện gia đình tôi viết giấy chuyển nhượng lại cho chị T với số tiền là 20.000.000đồng. Trong giấy chuyển nhượng này có chữ ký của bà Phạm Thị Hin (mẹ đẻ anh C) và ông Phạm Văn H (Tổ trưởng tổ 19, khu 2, phường H).

Tòa án đã làm việc với ông Phạm Văn H (Tổ trưởng tổ 19, khu 2, phường H) và xác minh tại UBND phường H, nơi anh Nguyễn Quang C cư trú thì được biết: Anh C đã mất ngày 25/01/2010, bà Phạm Thị H (mẹ đẻ anh Ch) đã mất ngày 23/10/2011. Anh C đã ly hôn vợ và có hai con là: chị Nguyễn Thị Hư (hiện đã đi lấy chồng ở xa không rõ địa chỉ) và anh Nguyễn Quang H (hiện vẫn cư trú tại tổ 19, khu 2, phường H) nhưng anh H thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú vào ban ngày, nên Toà án không lấy được lời khai.

Ngoài ra ông Phạm Văn H còn trình bày: Ngày 18/12/2007 ông có ký xác nhận vào Giấy chuyển nhượng đất tái định cư giữa anh Nguyễn Quang C với chị Nguyễn Thị T, khi đó anh C và chị T đã viết sẵn Giấy chuyển nhượng đất từ trước mang đến cho ông ký. Khi ký ông không biết anh C có đất tái định cư để chuyển nhượng hay không.

Tại Đơn đề nghị của bà Phạm Thị H ngày 02/6/2004 thể hiện khi Công ty cổ phần than Núi Béo lấy đất của anh Nguyễn Quang C để phục vụ sản xuất, do anh C đang đi tù nên bà Hin xin nhận tiền bồi thường thay cho anh C, trong đơn thể hiện vào thời điểm năm 2004 hai con anh C còn nhỏ (lớn 11 tuổi, nhỏ 10 tuổi).

Biên bản xác minh tại UBND phường H, thành phố Hạ Long thể hiện: Năm 2004 Công ty Cổ phần than Núi Béo có lập phương án bồi thường hỗ trợ nhà ở cho ông

Nguyễn Quang C, tại thời điểm bồi thường ông C chưa được xét cấp tái định cư. Đến thời điểm hiện nay ông C vẫn chưa có danh sách xét cấp tái định cư do phòng tài nguyên môi trường thành phố Hạ Long lập.

Biên bản xác minh tại Công ty Cổ phần than Núi Béo thể hiện: Tháng 11/2004 Công ty than Núi Béo đã bồi thường cho hộ gia đình anh Nguyễn Quang C theo phương án bồi thường đổ thải phục vụ sản xuất khai trường vỉa 14. Trong phương án bồi thường không xác định hộ anh C có được cấp đất tái định cư hay không.

Biên bản xác minh tại phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hạ Long thể hiện: Từ năm 2004 đến nay hộ gia đình anh Nguyễn Quang C chưa được xét cấp đất tái định cư.

Tại Biên bản họp thẩm định phương án xét tái định cư cho các hộ dân phường Hà Trung Tộc diện bồi thường GPMB để khai thác than của Công ty cổ phần than Núi Béo do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do UBND thành phố Hạ Long lập ngày 19/11/2013 thể hiện hộ anh C không đủ điều kiện cấp đất tái định cư.

Từ những chứng cứ trên, xác định anh Nguyễn Quang C không có đất tái định cư do Công ty Cổ phần than Núi Béo bồi thường để chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T. Việc anh C và bà T viết Giấy chuyển nhượng đất tái định cư vào ngày 18/12/2007 là chỉ thể hiện trên giấy tờ, còn thực chất không có đất để chuyển nhượng.

Từ đó xác định bà Nguyễn Thị T cũng không có đất tái định cư (mua lại của anh C) để chuyển nhượng cho anh H. Việc anh H và bà T ký giấy chuyển nhượng đất tái định cư ngày 26/12/2007 cũng là chỉ thể hiện trên giấy tờ, còn đối tượng giao dịch thực sự (đất tái định cư) thì không có. Bản thân anh H sau khi ký giấy chuyển nhượng với bà T cũng chưa bao giờ nhìn thấy lô đất này và bà T cũng chưa bao giờ bàn giao cho anh H lô đất này, do đó khẳng định bà T không có đất để chuyển nhượng cho anh H.

Bà Nguyễn Thị T không có mặt tại Tòa án mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ là tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên bà T không có lời khai về việc chuyển nhượng lô đất tái định cư của anh C.

Từ sự phân tích trên, đủ cơ sở khẳng định việc lập và ký giấy tờ mua bán đất giữa anh Phạm Xuân H với bà Nguyễn Thị T là có thật, được thể hiện bằng giấy chuyển nhượng hai bên đã ký, nguyên đơn đã giao đủ số tiền 118.000.000đồng cho bị đơn, nhưng nguyên đơn không nhận được đất như đã cam kết với bị đơn là do bị đơn thực sự không có đất tái định cư để giao cho nguyên đơn. Do vậy yêu cầu đòi lại số tiền 118.000.000đồng mà anh H đã đưa cho bà T là phù hợp với quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005 nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 256, 281, Điều 290 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Xuân H đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T.

Buộc chị Nguyễn Thị T phải trả cho anh Phạm Xuân H số tiền 118.000.000đ (Một trăm mười tám triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 5.900.000đồng (Năm triệu chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại anh Phạm Xuân H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.950.000đ (Hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai T tiền tạm ứng án phí số 0000126 ngày 20/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành ánhoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự 2008.


109
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/DSST ngày 19/12/2018 về kiện đòi tài sản

Số hiệu:02/2018/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về