Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2018/TLST-HNGĐ ngày 19-12-2018, về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14-02-2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Mai Ngọc L, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị Bích P và ông Mai Ngọc L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998, đến năm 2000 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy kết hôn. Theo bà P trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông L thường xuyên đánh đập bà. Bà có nộp đơn ở Ủy ban nhân dân xã T, gia đình hai bên khuyên nên hàn gắn. Tháng 7-2018, bà có nộp đơn ở Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn, ông L xin có thời gian sửa đổi nên bà rút đơn. Sau khi rút đơn, ông L không thay đổi được gì, vợ chồng ly thân đã 8 tháng, tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông L.

Theo ông L trình bày, về mâu thuẫn vợ chồng không đúng như bà P trình bày, vợ chồng cũng có cự cãi, nhưng ông không có đánh bà P. Bà P đi bán vé số kiếm thêm thu nhập, nhưng có khi nhậu tới khuya mới về, có khi đi cả ngày không về, không ai biết đi đâu. Bà P tự động bỏ nhà đi đâu ông không biết, ông và các con có điện thoại năn nỉ bà P về nhưng bà không về. Ông không đồng ý ly hôn, ông yêu cầu đoàn tụ để lo cho các con.

Về con chung: Bà P và ông L trình bày thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Mai Thị Mỹ D, sinh ngày 16-10-2001 và Mai Hoàng Minh Đ, sinh ngày 30-10-2009, hiện ông L đang nuôi con. Bà P yêu cầu ông L nuôi 02 con, bà không cấp dưỡng cho con. Ông L trình bày nếu ly hôn ông đồng ý nuôi 02 con, không yêu cầu bà P cấp dưỡng cho con.

Về tài sản: Bà P và ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Theo người làm chứng là bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày thì bà là mẹ ruột của bà P. Theo bà biết, quá trình sống chung bà P và ông L không có mâu thuẫn gì, chỉ từ khi bà P đi bán vé số mới phát sinh việc ăn nhậu dẫn đến vợ chồng cự cãi. Bà không biết lý do gì bà P bỏ nhà đi, nghe nói là có nợ, bà có kêu bà P về để bà bán đất cho tiền trả nợ, nhưng bà P không về. Thực chất là do bà P đi bán thấy người khác hơn chồng mình nên kiếm cớ ly hôn để có người khác. Bà yêu cầu Tòa án xem xét để bà P và ông L đoàn tụ lo cho con.

Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục vi phạm về tố tụng. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc bà P chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; bị đơn ông Mai Ngọc L, cư trú tại Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa bà P và ông L là hôn nhân hợp pháp, ông bà đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang vào ngày 14- 4-2000 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông L là do P đi bán vé số rồi bỏ nhà đi không về. Xét mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông L chưa trầm trọng, đời sống chung vợ chồng có thể hàn gắn được, nguyện vọng của ông L là muốn vợ chồng đoàn tụ để lo cho con. Hội đồng xét xử xét cần tạo điều kiện cho bà P và ông L đoàn tụ nên không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

[3]. Về án phí: Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[4]. Xét ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích P yêu cầu ly hôn với ông Mai Ngọc L.

2. Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 19598 ngày 14-12- 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về