Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 31/01/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ–ST NGÀY 31/01/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 513/2018/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Trung P, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ 9, ấp BP, xã BPX, huyện CM, tỉnh AG. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ 10, ấp BH 2, xã MK, thành phố LX, tỉnh AG. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung và bản khai cùng  ngày 10 tháng 07 năm 2018, nguyên đơn ông Phạm Trung P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Ông P và bà L do mai mối quen biết nhau, sau đó được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BPX, huyện CM, tỉnh AGtheo giấy trích lục kết hôn bản sao số 80/TLKH-BS ngày 16 tháng 3 năm 2016, hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh P thời gian đầu, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên bà L đã về nhà mẹ ruột sinh sống từ ngày 21 tháng 11 năm 2016, vợ chồng đã ly thân. Nay, ông P không còn tình cảm vợ chồng với bà L, mục đích hôn nhân không đạt được  nên ông P yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.

Về quan hệ con chung: Ông Phạm Trung P và bà Nguyễn Thị L có một con chung tên PTN, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2014 (nam), ông P yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, cháu N đang sống chung với ông P.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị L vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa: Ông Phạm Trung P có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 20 tháng 01 năm 2019, ông P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn ông P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp quy định pháp luật. Riêng bị đơn bà L vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bà và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án: Ông P và bà L đăng ký kết hôn năm 2016. Giữa ông P và bà L phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không liên lạc với nhau nhiều năm, không quan tâm chăm sóc lo lắng quan tâm nhau, vợ chồng ly thân từ ngày 21 tháng 11 năm 2016, nhận thấy hôn nhân không hạnh P nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông P đối với bà L là phù hợp quy định tại điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung, cháu Nghĩa hiện nay sống chung với ông P, được ông chăm lo tốt, có nơi ở ổn định nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông P được trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng, ông P không yêu cầu bà L không cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Trung P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 20 tháng 01 năm 2019. Căn cứ khoản 1 điều 228, điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông P là phù hợp quy định pháp luật.

Riêng đối với bà Nguyễn Thị L, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Thị L không đến Tòa và vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà L.

[2] Về nội dung vụ án: Ông Phạm Trung P và bà Nguyễn Thị L kết hôn năm 2016 trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BPX, huyện CM, tỉnh AG, theo giấy trích lục kết hôn (bản sao) số 80/TLKH-BS, ngày 16 tháng 03 năm 2018, kết hôn ngày 16 tháng 03 năm 2016 được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, ông P và bà L phát sinh mâu thuẫn, ông P xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh P đến cuối năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Trong thời gian sống chung ông P luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh P gia đình nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà L.

[4] Xét, hôn nhân giữa ông P và bà L mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh P cho cả hai. Hiện nay, ông P không còn tình cảm với bà L, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh P gia đình, chăm lo con cái. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bà L vắng mặt, không trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L tức là bà đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bà đã được pháp luật quy định nên không có căn cứ xét yêu cầu của bà L. Do đó, chấp nhận yêu cầu cùa ông P được ly hôn với bà L.

[5] Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng ông P và bà L có một con chung tên PTN, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2014 (nam), ông P yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Hiện nay, cháu Nghĩa đang sống chung với ông P, có nơi ở và học tập ổn định. Việc cháu Nghĩa sống chung với ông P, bà L vắng mặt không có ý kiến. Do đó, xét cần thiết phải giao con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của ông P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông P không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, nếu có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác nếu có.

[6] Trong thời gian sống chung vợ chồng, ông P xác định giữa ông và bà L không có tài sản chung, nợ chung giữa vợ chồng với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: ông P  nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

[8] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông P được ly hôn với bà L; ông P được trực tiếp nuôi con chung, bà L không cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung ông P và bà L không có nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

Điều 8; Điều 9; Điều 19, Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 3 Điều 228; Điều 229, Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 9 và Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của ông Pham Trụng P được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.

Về quan hệ con chung: Ông Phạm Trung P và bà Nguyễn Thị L có một con chung tên PTN, sinh ngày 30 tháng 03 năm 2014 (nam). Ông P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà L không cấp dưỡng nuôi con chung do ông P không yêu cầu.

Ông P phải tạo điều kiện thuận lợi cho bà L được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Ông Phạm Trung P và bà Nguyễn Thị L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông P nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008848, ngày 10 tháng 07 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ông Phạm Trung P và bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của các đương sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 31/01/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:02/2019/HNGĐ–ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về