Bản án 02/2019/HSST ngày 20/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 02/2019/HSST NGÀY 20/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Cọ) – Sinh ngày 21/10/1986 tại huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H – SN: 1967 và bà: Võ Thị H (Chết); Có vợ và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Trường mầm non Ph Đại diện theo pháp luật: Bà Kiều Thị L – Sinh năm: 1972. Hiệu trưởng Trường mầm non P.

Nơi cư trú: Khu phố Ch, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Võ Thanh Sơn – Sinh năm: 1978. Có mặt.

- Đỗ Thị Kim Oanh – Sinh năm: 1994. Vắng mặt.

- Nguyễn Phùng Phương Thảo – Sinh năm: 1993. Vắng mặt. Cùng trú tại: Khu phố Ch, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

- Tạ Thị Hạ My – Sinh năm: 1990 Nơi cư trú: Thôn Phước Lộc, xã Xuân Quang 3, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Lương Thị Hồng Son – Sinh năm: 1990 Nơi cư trú: Khu phố Th, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Duy Tr – Sinh năm: 1974 Nơi cư trú: Khu phố Ch, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Đoàn Thị Tr1 – Sinh năm: 1985 Nơi cư trú: T6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H nhà ở gần Trường Mầm non P thuộc khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, H biết trường có tài sản nên nảy sinh ý định lấy trộm để sử dụng. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/02/2019, quan sát thấy không có ai trông coi nên H lén lút đột nhập vào Trường Mầm non P. Sau đó, H đi đến phía sau phòng học lớp “Mẫu giáo nhỡ” dùng tay giật mạnh cửa phòng vào trong lấy trộm 01 ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu ASANZO, màu đen, loại 32 inch; 01 đầu đĩa DVD hiệu EVD, màu đen; 01 đầu đĩa DVD hiệu EVD-5588, màu xám. Tiếp đến, H sang phòng học lớp “Mẫu giáo bé” tiếp tục dùng tay giật mạnh cửa phòng rồi vào trong lấy trộm 01 ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu LG, loại 32 inch, màu đen; 01 đầu đĩa DVD hiệu EVD- 5288, màu xám đen và 01 cây organ hiệu CASIO, màu xám, loại 61 phím. Sau đó, H đem tất cả số tài sản vừa lấy trộm được về nhà của H tại khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên cất giấu. Đến ngày 03/02/2019, thị bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phát hiện, thu giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTTHS ngày 21/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ án Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 01/02/2019 tại Trường Mầm non P là 5.332.000 đồng (Năm triệu ba trăm ba mươi hai ngàn đồng).

Vật chứng vụ án: 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu ASANZO, màu đen, loại 32 inch; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5588, màu xám; 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu LG, loại 32 inch, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5288, màu xám đen; 01 (một) cây đàn organ hiệu CASIO, loại 61 phím, màu xám. Ngày 05/3/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01/CQCSĐT trả lại số tài sản trên cho chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKSĐX ngày 04/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt:

- Nguyễn Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng, giao cho UBND thị trấn L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy đủ cơ sở kết luận:

Khong 23 giờ 30 phút ngày 01/02/2019, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút đột nhập vào Trường Mầm non P thuộc khu phố B – thị trấn L – huyện Đ – tỉnh Phú Yên lấy trộm 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu ASANZO, màu đen, loại 32 inch; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5588, màu xám; 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu LG, loại 32 inch, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5288, màu xám đen; 01 (một) cây đàn organ hiệu CASIO, loại 61 phím, màu xám, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.332.000 đồng (Năm triệu ba trăm ba mươi hai ngàn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” – theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, cũng cần xem xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm Tr, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta mà an tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đi với Võ Thanh Sơn – là nhân viên bảo vệ trường Mầm non P nhưng tH tinh thần trách nhiệm trong việc bảo vệ tài sản của trường để bị cáo H trộm cắp. Tuy nhiên tài sản của trường bị mất chỉ có 5.332.000 đồng nên không xử lý Sơn về tội tH tinh thần trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. HĐXX lưu ý cho Sơn trong thời gian đến phải thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.

[4] Về vật chứng: 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu ASANZO, màu đen, loại 32 inch; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5588, màu xám; 01 (một) ti vi màn hình tinh thể lỏng hiệu LG, loại 32 inch, màu đen; 01 (một) đầu đĩa DVD hiệu EVD-5288, màu xám đen; 01 (một) cây đàn organ hiệu CASIO, loại 61 phím, màu xám. Ngày 05/3/2019, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 01/CQCSĐT trả lại số tài sản trên cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác nên không xét giải quyết.

[6] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt:

+ Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HSST ngày 20/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:02/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đồng Xuân - Phú Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về