Bản án 02/2019/KDTM-ST ngày 10/07/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 02/2019/KDTM-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2019/TLST-KDTM ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXX-KDTM ngày 12/06/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-KDTM ngày 28/6/2019 giữa các bên đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty khoáng sản than ĐB (gọi tắt là công ty ĐB)

Địa chỉ: số A, đường CH, phường 12, Quận TB, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân V - chức vụ Giám đốc Công ty

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Kim Kh - chức vụ: Trưởng ban kiểm soát công ty(có mặt)

(Văn bản ủy quyền số 16/UQ-KSTĐB ngày 06 tháng 6 năm 2019)

- Bị đơn: Công ty SXTMDV QA (gọi tắt công ty QA)

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện BB, Bình Thuận

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Nh - chức vụ giám đốc công ty. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn Công ty ĐB có đại diện ông Nguyễn Kim Kh trình bày: Công ty cổ phần khoáng sản than ĐB (gọi tắc công ty ĐB)và công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ QA (gọi tắc công ty QA) có đại diện ông Trần Xuân V và ông Đặng Nh thực hiện ký kết hai hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa số 65/HDBT/2017 ngày 03/10/2017 và số 21/HĐBT/2018 ngày 02/01/2018. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, công ty than ĐB cung cấp than đá cho công ty QA với số lượng theo nhu cầu qua xác nhận điện thoại, đơn giá tùy chủng loại mà công ty QA yêu cầu như sau: Giá 1.100.000đ - 1.390.000đ - 1.510.000đ/tấn, giá chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, địa điểm giao hàng tại nhà máy công ty QA thuộc xã L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận, thời gian giao hàng tùy đơn hàng công ty QA yêu cầu cung cấp. Sau khi xác nhận đơn hàng đối chiếu hàng hóa giao, nhận giữa hai bên công ty Than ĐB và công ty QA trong thời hạn sau 15 ngày sẽ xuất hóa đơn hàng hóa.Thời gian thanh toán sau 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn, hình thức thanh toán là chuyển khoản. Nếu chậm thanh toán sẽ chịu lãi suất quá hạn theo mức lãi suất của ngân hàng TMCP Tiên Phong và Ngân hàng TMCP cùng thời điểm phải thanh toán.

* Theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký số 65/HĐBT 2017, công ty ĐB đã bán hàng hóa là than đá cho công ty QA với số lượng 878.529 tấn theo các hóa đơn đã xuất như sau:

+ Hóa đơn số 0002840 ngày 31/10/2017, số lượng 81.620 tấn, thành tiền: 144.780.530đ,

+ Hóa đơn số 0002909 ngày 30/11/2017, số lượng 286.160 tấn, thành tiền: 525.359.310đ

+ Hóa đơn số 0002965 ngày 15/12/2017, số lượng 294649 tấn, thành tiền: 520.171.336đ

+ Hóa đơn số 0003009 ngày 31/12/2017, số lượng 216.100 tấn, thành tiền: 406.051.900đ.

Tổng cộng hợp đồng số 65/HĐBT 2017 bên công ty QA phải thanh toán tiền hàng hóa cho công ty ĐB 1.596.363.076đ nhưng từ ngày 26/01/2018 đến 26/3/2019 công ty QA chỉ trả nợ gốc 1.590.196.150đ theo các chứng từ thanh toán BC0079 ngày 26/01/2018 số tiền 144.780.530đ, BC ngày 09/4/2018 số tiền 250.000.000đ, BC ngày 27/4/2018 số tiền 50.000.000đ, BC ngày 07/5/2018 số tiền 150.000.000đ, BC ngày 22/6/2018 100.000.000đ, BC ngày 21/8/2018 số tiền 150.000.000đ, BC ngày 01/10/2018 số tiền 400.000.000đ, BC ngày 26/3/2018 số tiền 95.415.620đ. Còn nợ gốc chưa thanh toán của hợp đồng 65/HĐBT -2017 là 6.166.926đ. Lãi chậm thanh toán của hợp đồng số 65/HĐBT -2017 tính đến ngày 13/6/2019 là 120.856.108đ

* Đối với hợp đồng số 21/HĐBT/2018 công ty ĐB cung cấp than đá cho công ty QA đến ngày 28/6/2018 với số lượng hàng hóa than đá 1.061.007 tấn theo các hóa đơn đã xuất như sau:

+ Hóa đơn số 0003128 ngày 31/01/2018, số lượng 244.686 tấn, thành tiền: 432.660994đ,

+ Hóa đơn số 0003202 ngày 28/02/2018, số lượng 401.090 tấn, thành tiền: 732.143.110d

+ Hóa đơn số 0003282 ngày 29/3/2018, số lượng 279.230 tấn, thành tiền: 449856 300đ

+ Hóa đơn số 0003359 ngày 27/4/2018, số lượng 70.760 tấn, thành tiền: 110.527.120đ

+ Hóa đơn số 0003418 ngày 22/5/2018, số lượng 25.340 tấn, thành tiền: 39.582.080đ

+ Hóa đơn số 0003491 ngày 28/6/2018, số lượng 39.900 tấn, thành tiền: 62.323.800đ. Tổng thành tiền là 1.827.092.404đ nhưng hiện nay công ty QA chưa thanh toán tiền hàng hóa theo thỏa thuận của hợp đồng số 21/HĐBT 2018 với số tiền là 1.827.092.404đ và lãi phát sinh tính đến ngày 13/6/2019 là 294.587.075đ. Mặc dù, sau khi nhận hàng và đối chiếu số lượng giao nhận đã xuất hóa đơn hàng hóa theo qui định thỏa thuận đã ký sau 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn phải thanh toán tiền hàng. Nếu không thanh toán đủ phải chịu tính lãi quá hạn theo mức lãi xuất của Ngân hàng Thương mại cổ phần tại thời điểm thanh toán nhưng qua nhiều lần công ty ĐB đã thông báo yêu cầu công ty QA thanh toán tiền hàng nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán đủ. Vì vậy, công ty ĐB yêu cầu công ty QA phải thanh toán tiền hàng hóa còn nợ 1.833.259.330đ và lãi phát sinh tính đến ngày 13/6/2019 là 415.443.183đ và yêu cầu tính lãi tiếp tục cho đến khi trả hết nợ.

Riêng hai hóa đơn ngày 15/10/2018 số tiền 178.208.800đ(hóa đơn số 0003733) và hóa đơn hàng ngày 03/11/2018 số tiền 26.375.580đ(hóa đơn số 0003793) công ty ĐB không khởi kiện nên ngày 26/3/2019 công ty QA đã thanh toán)

Quá trình tố tụng bị đơn Công ty QA có đại diện ông Đặng Nh trình bày:Công ty QA có thừa nhận còn nợ tiền hàng hóa mua than đá của công ty ĐB theo hai hợp đồng đã ký số 65 và 21 như công ty ĐB trình bày nhưng do quá trình hoạt động kinh doanh, công ty mới đi vào hoạt động đã gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm nên công ty có lúc tạm ngừng hoạt động sản xuất, tài chính cũng bị ảnh hưởng dẫn đến không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hóa theo hai hợp đồng đã ký số 65 và 21 như công ty ĐB trình bày. Nay đại diện công ty QA là ông Đặng Nh đề nghị công ty ĐB giảm khoản nợ gốc hoặc cho thời hạn trả nợ như sau:

+ Nợ tiền mua hàng chia làm ba kỳ trả vào các ngày 15/7/2019, công ty QA trả 600.000.000đ, ngay 15/8/2019 tra 600.000.000đ và 15/9/2019 trả số nợ gốc còn lại.

+ Đối với khoản lãi và lãi quá hạn theo hợp đồng số 65/HĐBT/2017 và số 21/HĐBT 2018 đã ký, công ty QA đề nghị công ty ĐB xem xét tạo điều kiện công ty QA hoạt động trả nợ tiền hàng nên yêu cầu công ty ĐB không tính lãi và lãi quá hạn đối với công ty QA.VÌ công ty QA đang gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính công ty.

Tại phiên tòa:

Đại diện công ty ĐB ông Nguyễn Kim Kh trình bày: Sau khi Công ty ĐB và công ty QA không thỏa thuận được tại Tòa án ngày 13/6/2019 nên Tòa án nhân dân huyện BB ra quyết định xét xử vào ngày 28/6/2019 nhưng ngày 28/6/2019 công ty QA không đến Tòa án xét xử và có chuyển thanh toán nợ tiền hàng hai hợp đồng mua bán số 65/HĐBT/2017 và hợp đồng số 21/HĐBT/2018 số tiền là 1.800.000.000đ (Một tỉ tám trăm triệu đồng) theo chứng từ BC ngày 28/6/2019. Hiện nay công ty QA đã thanh toán dứt nợ tiền hàng của hợp đồng đã ký số 65/HĐBT/2017. Hợp đồng số 21/ HĐBT 2018 đã thanh toán 1.793.833.074đ .Vì vậy, công ty ĐB yêu cầu công ty QA tiếp tục thanh toán tiền hàng của hợp đồng số 21 còn nợ 33.259.330đ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi đồng). Lý do, công ty ĐB đã tạo điều kiện thời gian thanh toán nợ khá lâu từ năm 2018 đến nay nhưng vẫn chưa thanh toán đủ, công ty ĐB phải vay Ngân hàng Tiên Phong để hoạt động sản xuất nhưng công ty ĐB chỉ yêu cầu công ty QA trả nợ gốc không tiếp tục tính lãi quá hạn của số nợ còn lại 33.259.330đ; Đối với khoản lãi do hợp đồng đã ký tại Điều 2 và khoản 2 Điều 4 của hợp đồng số 65 và khoản 10 Điều 1 và Điều 3 hợp đồng số 21 nên không chấp nhận giảm lãi, không tính lãi suất, không áp dụng lãi quá hạn theo đề nghị của đại diện công ty QA.

Công ty QA có ông Đặng Nh đại diện vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về quan điểm giải vụ án như sau:

+ Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Đã tuân thủ đúng qui định của pháp luật tố tụng về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách đương sự và thời hạn thủ tục cấp tống đạt.

+ Về tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng qui định của bộ luật tố tụng dân sự

+ Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự bị đơn không chấp hành

+ Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 87; Điều 275; Điều 430,Điều 433,Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 50; Điều 55, Điều 292; Điều 294; Điều 306, Điều 317, Điều 319 Luật Thương Mại, đề nghị chấp nhận yêu cầu của Công ty ĐB buộc công ty QA phải thanh toán tiền hàng hóa 33.259.330đ và lãi suất 425.326.395đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, xét ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] - Về thủ tục tố tụng: Do công ty ĐB ký hợp đồng mua bán hàng hóa số 65/HĐBT/2017 ngày 03/10/2017 và số 21/HĐBT ngày 02/01/2018 với công ty QA không thỏa thuận khi có tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán hợp đồng giải quyết bằng hòa giải trọng tài hay chọn Tòa án giải quyết nhưng công ty ĐB có lập biên bản ngày 13/4/2017 đề nghị khởi kiện tranh chấp hợp đồng số 65 về nghĩa vụ thanh toán hợp đồng tại Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng biên bản này không phải là phụ lục hợp đồng và thỏa thuận này trái qui định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Công ty ĐB xác định nơi bị đơn có trụ sở chính tại Phường X An, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận và nộp đơn khởi kiện ban đầu ngày 31/7/2018 nơi bị đơn có trụ sở chính được Tòa án Thành phố PT thụ lý là đứng qui định tại Điều 317 và Điều 319 Luật thương mại năm 2005.Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn công ty QA cung cấp chứng cứ trụ sở công ty QA dời về nhà máy có địa chỉ tại thôn B, xã L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận nên Tòa án nhân dân thành phố PT có quyết định số 01/2018/QĐ-CVA ngày 17/10/2018 chuyển vụ án của công ty ĐB về Tòa án nhân dân huyện BB giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ. Tuy nhiên, trong quá trình thông báo yêu cầu công ty than ĐB bổ sung đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện BB nhưng đến ngày 07/3/2019 công ty ĐB mới bổ sung đơn khởi kiện tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hóa” và Tòa án nhân dân huyện BB tiến hành thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền qui định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. BỊ đơn Công ty QA có đại diện theo pháp luật ông Đặng Nh- giám đốc công ty đã được tống đạt thủ tục xét xử hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên vụ án xét xử váng mặt ông Đặng Nh là phù hợp khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] - Về yêu cầu của công ty ĐB:Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn công ty ĐB có ông Nguyễn Kim Kh thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc công ty QA thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hóa còn nợ đối với hợp đồng mua bán hàng hóa số 21/HĐBT-2018 chưa thanh toán đủ hiện nay gốc 33.259.330đ (Ba mươi ba triệu hai trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi đồng). Vì sau khi Tòa án có quyết định hoãn phiên tòa ngày 28/6/2018 công ty QA đã tiếp tục thanh toán tiền hàng của hai hợp đồng 65 và số 21 với số tiền 1.800.000.000đ (Một tỉ tám trăm triệu đồng). Trong đó, trừ vào tiền nợ gốc của hợp đồng số 65/HĐBT 2017 là 6.166.926đ, nợ gốc của hợp đồng số 21/HĐBT 2018 là 1.793.833.074đ. Không yêu cầu tính lãi quá hạn tiếp theo đối với số tiền hàng còn nợ 33.259.330đ .

Đối với khoản lãi yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh của hợp đồng số 65 là 120.888.844 đồng (tính đến ngày 27/6/2019)và lãi của hợp đồng số 21 là 304.437.221 đồng, tính đến ngày 10/7/2019.

Hội đồng xét xử thấy yêu cầu về thanh toán nợ mua bán hàng hóa của hai hợp đồng sô 65/HĐBT/2017 và hợp đồng số 21/HĐBT/2018 được ký kết bởi đại diện hợp pháp của hai pháp nhân nên đây là tranh chấp nghĩa vụ thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa nên được áp dụng Luật thương mại năm 2005 để giải quyết:

+ Xét về nợ gốc hai hợp đồng số 65 và 21 tại đơn khởi kiện ban đầu ngày 07/3/2019 và bản kê nợ (BL78) công ty ĐB xác định nợ tính đến ngày 20/02/2019 số tiền công ty QA phải thanh toán nợ mua bán hàng hóa của hợp đồng số 65 là 101.582.546đ. Đến ngày 06/6/2019 công ty ĐB xác định nợ gốc của hợp đồng số 65 không còn nhưng đến ngày 13/6/2019 công ty ĐB xác định nợ gốc của hợp đồng số 65 là 6.166.926đ mà công ty QA phải tiếp tục thanh toán. Tại phiên tòa Công ty ĐB xác định nợ gốc hợp đồng số 65 là 0 đồng. Đối với hợp đồng số 21 Công ty QA mua hàng còn nợ tính đến hóa đơn ngày 27/6/2018 là 1.827.092.404đ chưa thanh toán.Tại phiên tòa Công ty ĐB trình bày có sự thay đổi số liệu và thay đổi yêu cầu là do quá trình khởi kiện công ty than ĐB chưa đưa hai chứng từ phát sinh mới của đơn hàng ngày 15/10/2018 số tiền 178.208.800đ (hóa đơn số 0003733) và đơn hàng ngày 03/11/2018 số tiền 26.375.580đ (hóa đơn số 0003793) vào yêu cầu Tòa án giải quyết trong hợp đồng 21 nên công ty QA khi thanh toán tiền ngày 26/3/2019 số tiền 300.000. 000đ công ty ĐB trừ vào hợp đồng số 65 còn lại và sau đó cộng hai chứng từ mới phát sinh của hợp đồng 21 với số nợ 204.584.380đ và tính đối trừ giữa tổng giá trị đơn hàng và tổng giá trị thanh toán là không còn nợ của hợp đồng số 65 nhưng sau ngày 06/6/2019, công ty ĐB điều chỉnh lại đúng yêu cầu khởi kiện ban đầu nên số tiền 300.000.000đ công ty QA thanh toán ngày 26/3/2019 được thanh toán cho hai hóa đơn số 0003733 và 0003793 với số tiền 204.584.380đ, còn thừa 95.415.620đ được thanh toán trừ vào nợ hợp đồng số 65 theo yêu cầu ban đầu là 101.582.546 nên công ty QA còn nợ hợp đồng số 65 là 6.166.920đ tính đến trước ngày 27/6/2019 nhưng sau khi hoãn phiên tòa ngày 28/6/2019 Công ty QA thanh toán tiền hàng của hai hợp đồng 65 và 21 là 1.800.000. 000đ nên công ty ĐB trừ vào hợp đồng số 65 còn nợ là 6.166.926đ, số tiền còn lại 1.793.833.074đ được thanh toán cho hợp đồng số 21 còn nợ 1.827.092.404đ nên hiện nay công ty QA còn nợ của hợp đồng số 21/HĐBT 2018 là 33.259.330đ.

Đối chiếu tại các chứng từ mua hàng và chứng từ thanh toán công ty ĐB cung cấp trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị đơn thống nhất giá trị hàng hóa công ty ĐB đã cung cấp cho công ty QA và tổng số tiền công ty QA đã thanh toán cho công ty ĐB là phù hợp số liệu hai bên cung cấp và thừa nhận tại các bản tự khai và hòa giải và các chứng từ hóa đơn giá trị gia tăng có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, công ty ĐB yêu cầu công ty QA thanh toán nợ gốc của hợp đồng 21 hiện nay chưa thanh toán là 33.259.330đ và không tiếp tục tính lãi quá hạn là tự nguyện, không trái pháp luật và có căn cứ phù hợp qui định tại Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 292 Luật thương mại 2005 và Điều 87, Điều 275 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

+ Đối với yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong trên số tiền chậm thanh toán của hợp đồng số 65/HĐBT/ 2017: lãi quá hạn là 120.888.840đ, hợp đồng số 21/HĐBT 2018: lãi quá hạn 304.437.221 đồng, công ty than Đông Bắc áp dụng căn cứ trên hóa đơn bán hàng sau 30 ngày kể từ ngày ghi trên hóa đơn bán hàng và áp dụng lãi suất quá hạn theo từng thời điểm thanh toán nếu không thanh toán đúng theo thỏa thuận trên hợp đồng đã ký tại khoản 10 Điều 1 hợp đồng 21 và khoản 2 Điều 4 Hợp đồng 65 và công ty than Đông Bắc cung cấp chứng cứ bảng thông báo lãi suất của Ngân hàng TMCP Tiên Phong đối với công ty ĐB tại BL 98, 99 và hóa đơn chứng từ số 0002840 số tiền phải thanh toán là 144.780.530đ, lãi quá hạn là 2.654310đ; chứng từ số 0002909, số tiền phải thanh toán là 525.359.310, lãi quá hạn là 20.908.545đ; chứng từ số 0002965, số tiền phải thanh toán là 520.171.336đ, lãi quá hạn là 44.751.383đ; chứng từ số 0003009, số tiền phải thanh toán là 406.051.900đ, lãi quá hạn là 52.574.608đ: Tổng cộng số tiền phải thanh toán là 1.596.363.076đ nhưng tính đến ngày 26/3/2019 mới thanh toán 1.590.196.150, còn lại 6.166.926đ đến ngày 28/6/2019 thanh toán đủ nợ tiền hàng hóa còn lại, chưa thanh thanh toán lãi là 120.888.844đ và hợp đồng số 21/HĐBT /2018 căn cứ vào hóa đơn số chứng từ số 0003128, số tiền phải thanh toán là 432.660.994đ, lãi quá hạn là 77.556.286đ; chứng từ số 0003202 số tiền phải thanh toán là 732.143.110đ, lãi quá hạn là 124.735.832đ; chứng từ số 0003282, số tiền phải thanh toán là 449.856.300d, lãi quá hạn là 71.913.278đ; số chứng từ 0003359, số tiền phải thanh toán là 110.527.120đ, lãi quá hạn là 16.506.765đ; chứng từ số 0003418 số tiền phải thanh toán là 39.581.080đ, lãi quá hạn là 5.552.566đ; chứng từ số 0003491, số tiền phải thanh toán là 62.323.800đ, lãi quá hạn là 8.172.495đ.Tổng số tiền phải thanh toán là 1.827.092.404đ, đã thanh toán ngày 28/6/2019 là 1.793.833.074đ, lãi quá hạn phải chịu là 304.437.221đ. Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận tiền lãi do chậm thanh toán giữa công ty ĐB và công ty QA tại hợp đồng số 65/HĐBT- 2017 và hợp đồng số 21/HĐBT - 2018 không trái qui định tại Điều 306 của Luật thương mại 2005 và căn cứ bảng tính lãi quá hạn của công ty ĐB dựa trên bảng thông báo lãi của Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong không vượt quá lãi suất giới hạn cho phép nên yêu cầu tính lãi theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng Tiên Phong là hoàn toàn có căn cứ phù hợp hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Đối với yêu cầu của công ty QA đồng ý nợ tiền hàng hóa của công ty ĐB 1.833.259.330đ nhưng đề nghị giảm khoản nợ gốc hoặc chia làm ba đợt thanh toán nhưng Công ty ĐB không đồng ý và công ty ĐB đã trình bày và cung cấp chứng cứ ngày 28/6/2018 Công ty QA đã thanh toán 1.800.000.000đ. Số nợ gốc còn lại 33.259.330 đồng. Công ty QA vắng mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì về nợ gốc. Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận thời hạn thanh toán trong hợp đồng số 65 đã ký tại Điều 2 có thỏa thuận thanh toán là 100% giá trị lô hàng trong vòng 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn bán hàng và tại hợp đồng số 21 có thỏa thuận tại khoản 10 Điều 1 thời hạn thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày ghi trên hóa đơn bán hàng phù hợp qui định tại Điều 50, Điều 55, Điều 292 Luật thương mại 2005. Như vậy, yêu cầu của công ty QA đề nghị Công ty ĐB xem xét khoản nợ gốc nhưng không được công ty ĐB chấp nhận là hoàn toàn có căn cứ.

+ Đối với yêu cầu của công ty QA đề nghị của công ty ĐB không tính lãi và không áp dụng lãi quá hạn đối với hợp đồng số 65 và số 21 với lý do công ty hiện nay đang gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không được công ty ĐB chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy lý do của công ty QA đưa ra để yêu cầu công ty ĐB xét miễn tiền lãi suất quá hạn là hoàn toàn không có căn cứ. Bởi thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và căn cứ vào Điều 294; Điều 306 Luật thương mại năm 2005 lý do công ty QA đang gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm nên công ty ĐB không đồng ý là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Công ty QA.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của công ty ĐB được chấp nhận toàn bộ nên công ty QA phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 10/6/2019 công ty QA có đơn xin giảm án phí nhưng xác nhận không hợp lệ nên Hội đồng xét xử không xem xét theo qui định tại Điều 16, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 qui định về mức thu,miễn giảm, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 87; Điều 275 Bộ luật Dân sự.

- Điều 24; Điều 50; Điều 55; Điều 292; Điều 294; Điều 306; Điều 317; Điều 319 luật thương mại năm 2005.

- Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao

- Điều 16; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty ĐB

- Buộc công ty QA phải thanh toán tiền mua hàng cho công ty ĐB số tiền nợ gốc 33.259.330đ và tiền lãi 425.326.065đ. Tổng cộng là 458.585.395đ (Bốn trăm năm mươi tám triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng).

- Về án phí:

+ Công ty QA phải nộp 22.343.400đ (Hai mươi hai triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí công ty ĐB đã nộp 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023472 ngày 07/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố PT

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo qui định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện nguyên đơn, vắng mặt đại diện bị đơn. Đại diện nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


41
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về