Bản án 03/2015/LĐPT ngày 03/8/2015 về buộc thôi việc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

BẢN ÁN 03/2015/LĐPT NGÀY 03/08/2015 VỀ BUỘC THÔI VIỆC

Ngày 03 tháng 8 năm 2015 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 01/2014/TLPT-LĐ ngày 12 tháng 8 năm 2014 về việc “Buộc thôi việc”

Do bản án lao động sơ thẩm số 01/2014/LĐST ngày 04/07/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2015/QĐ - PT ngày 16 tháng 7 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nhâm, sinh năm 1979; có mặt.

Địa chỉ: Xóm 12, xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Phạm Văn Hiểu, sinh năm 1955; trú tại: 5/107 đường Chi Lăng, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; có mặt.

* Bị đơn: Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Hải Dương;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Duy Khiêm - Hiệu trưởng

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Khiêm: Ông Mai Xuân Tuấn - Phó hiệu trưởng; có mặt.

Địa chỉ: Số 30 phố Tống Duy Tân, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Ông Nguyễn Thanh Bình - Luật sư của Văn phòng luật sư Tâm Đức Phúc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; có mặt.

NHẬN THẤY

 Nguyên đơn là chị Phạm Thị Nhâm và người đại diện theo ủy quyền của chị Nhâm là ông Phạm Văn Hiểu trình bày:

Chị Nhâm tốt nghiệp Đại học Âm nhạc - Nhạc viện Hà Nội năm 2002. Ngày 01/4/2003, chị Nhâm được tuyển dụng làm giáo viên khoa âm nhạc múa Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Hải Dương (viết tắt là Trường VH&DL Hải Dương). Quá trình công tác chị Nhâm luôn hoàn thành nhiệm vụ. Năm 2011, do bị ốm, chị Nhâm phải nhập viện Tâm thần Thái Nguyên điều trị từ ngày 01/8/2011 đến ngày 07/9/2011 ra viện. Sau khi ra viện, chị Nhâm điều trị ngoại trú tại Trạm y tế xã Hà Thượng, Đại Từ, Thái Nguyên. Trong thời gian điều trị tại bệnh viện, chị Nhâm có làm đơn xin nghỉ không lương gửi chuyển phát nhanh đến Trường và có lần mẹ chị Nhâm đến gặp Hiệu trưởng Trường chị Nhâm xin cho chị nghỉ việc.

Ngày 25/10/2011, sau khi nhận được giấy triệu tập của Trường, chị Nhâm đã có mặt. Ngày 02/11/2011, chị Nhâm nhận Quyết định kỷ luật số 104 ngày 02/11/2011 quyết định kỷ luật với hình thức: Hạ bậc lương, chuyển làm công việc khác; lý do: vi phạm ý thức, tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, quy chế chuyên môn, quan hệ xã hội phức tạp gây dư luận xấu làm ảnh hưởng uy tín của Trường trong thời gian từ 14/01/2011 đến 15/7/2011; thời gian kỷ luật 01 năm kể từ ngày 15/8/2011. Chị Nhâm không làm công tác giảng dạy mà chuyển làm nhân viên Văn phòng Khoa Âm nhạc - Múa.

Trong thời gian làm tại Văn phòng khoa, ngày 22/12/2011, Trường đã họp xét kỷ luật chị Nhâm với lý do: tiếp tục vi phạm ý thức tổ chức kỷ luật trong thời gian từ ngày 15/8/2011 đến 05/12/2011, không đến cơ quan làm việc đúng thời gian quy định, nghỉ không báo cáo xin phép, thủ tục xin nghỉ phép không đúng quy định, tự ý bỏ cơ quan từ ngày 08/9/2011 đến 25/10/2011 và vi phạm kỷ luật từ 25/10/2011 cho đến nay. Ngày 05/01/2012, Trường đã ra Quyết định số 09 kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Nhâm. Sau khi nhận quyết định kỷ luật buộc thôi việc, chị Nhâm đã làm đơn khiếu nại nhưng đã hết thời hiệu. Nay chị Nhâm cho rằng Trường kỷ luật chị với hình thức buộc thôi việc là không đúng với các lý do: Quyết định số 09 ngày 05/01/2012 áp dụng văn bản pháp luật không đúng; trong thời gian nghỉ từ ngày 15/8/2011 đến 24/10/2011 chị Nhâm nghỉ điều trị bệnh từ 01/8/2011 đến 07/9/2011; từ ngày 08/9/2011 đến ngày 24/10/2011 chị điều trị ngoại trú tại Trạm y tế xã Hà Thượng; từ 25/10/2011, chị đi làm không vi phạm; trong tháng 11/2011, chị thừa nhận có ngày chị đi làm muộn, có hôm mưa chị không đến cơ quan làm việc nhưng không nhớ cụ thể là ngày nào. Chị Nhâm đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 09 ngày 05/01/2012 của Hiệu trưởng Trường VH&DL Hải Dương, buộc nhà trường phải nhận chị trở lại làm việc, khôi phục vị trí làm việc, trả lương trong thời gian chị không được làm việc theo mức lương 5.520.000đồng/tháng; khôi phục quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; bồi thường danh dự bằng 10 tháng lương với mức lương 5.520.000đồng/tháng.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, Trường Trung cấp văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Hải Dương, người được ủy quyền - ông Mai Xuân Tuấn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:

Trường VH&DL tỉnh Hải Dương xác nhận đã quyết định buộc thôi việc chị Nhâm theo Quyết định số 09 ngày 05/01/2012 với nội dung chị Nhâm trình bày là đúng. Lý do Trường xem xét kỷ luật thời gian từ 15/8/2011 đến 05/12/2011.

Ngày 02/11/2011, Trường VH&DL tỉnh Hải Dương ra Quyết định kỷ luật số 104 kỷ luật chị Nhâm với hình thức hạ bậc lương, chuyển công tác do chị Nhâm vi phạm kỷ luật thời gian từ ngày 14/01/2011 đến ngày 15/7/2011. Do từ 15/7/2011 đến 15/8/2011 là thời gian nghỉ hè, sau đó chị Nhâm lại nghỉ ốm nên sau ngày 25/10/2011 chị Nhâm đến cơ quan làm việc, Nhà trường mới họp xét kỷ luật thời gian chị Nhâm vi phạm từ ngày 14/01/2011 đến 15/7/2011 bằng Quyết định số 104 ngày 02/11/2011. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15/8/2011. Thời gian vi phạm từ ngày 15/8/2011 đến 24/10/2011 chưa được xem xét tại quyết định kỷ luật tố 104.

Trong thời gian chị Nhâm đang thi hành Quyết định 104 lại tiếp tục vi phạm kỷ luật từ ngày 15/8/2011 đến 05/12/2011, cụ thể như sau:

Theo quy định sau khi nghỉ hè ngày 15/8/2011, cán bộ, viên chức phải có mặt tại Trường nhưng chị Nhâm đã không đến trường làm việc, không xin phép Nhà trường. Ngày 17/8/2011, Trường nhận được đơn xin nghỉ chữa bệnh của chị Nhâm nhưng không có xác nhận của cơ quan y tế. Nhà trường đã làm Công văn số 30 ngày 17/8 và Công văn số 31 ngày 25/8 yêu cầu chị Nhâm làm thủ tục xin nghỉ ốm theo quy định và yêu cầu chị Nhâm có mặt tại Trường đúng thời gian quy định. Ngày 29/8, Trường nhận được đơn của ông Nhì là bố đẻ chị Nhâm có xác nhận của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Nguyên xác nhận chị Nhâm đã ra viện từ ngày 07/9/2011. Ngày 11/10/2011, cán bộ của Trường đến Bệnh viện Tâm thần tỉnh Thái Nguyên xác minh về việc chị Nhâm điều trị và sao bệnh án của chị Nhâm. Theo bệnh án, chị Nhâm ra viện với tình trạng bệnh tình đã ổn định. Trong thời gian từ ngày chị Nhâm ra viện, nhà trường có nhận được đơn xin nghỉ không lương của chị Nhâm đề ngày 13/10/2011 nhưng Nhà trường không đồng ý nên ngày 18/10/2011, Trường đã gửi thông báo yêu cầu chị Nhâm có mặt tại trường. Ngày 25/10/2011, chị Nhâm đến trường làm việc. Như vậy, chị Nhâm đã tự ý nghỉ việc từ ngày 07/9/2011 không có ý do, không xin phép, báo cáo nhà trường, ra viện sau gần một tháng chị mới có đơn xin nghỉ không lương.

Thời gian làm việc từ ngày 25/10/2011 đến 05/12/2011, chị Nhâm lại tiếp tục vi phạm ý thức kỷ luật, nghỉ không lý do các ngày 09, 11, 15, 16, 21, 22, 23, 24 tháng 11. Ngày 22/12/2011, Nhà trường đã thành lập Hội đồng kỷ luật tiến hành họp xét kỷ luật đối với chị Nhâm, thời gian vi phạm từ 07/9/2011 đến 24/10/2011 và nghỉ không lý do các ngày 09, 11, 15, 16, 21, 22, 23, 24 tháng 11. Tại cuộc họp xét kỷ luật, chị Nhâm tự kiểm điểm đã nhận sai sót: khi nghỉ làm đơn không đúng quy định, một số buổi còn đi làm muộn, những hôm trời mưa không đến cơ quan, chị Nhâm tự nhận hình thức kỷ luật hạ bậc lương. Do chị Nhâm đang thi hành hình thức kỷ luật hạ bậc lương chuyển làm việc khác nay lại vi phạm, nghỉ nhiều ngày không có lý do nên Hội đồng kỷ luật đã làm văn bản kiến nghị Hiệu trưởng và ngày 05/01/2012, Hiệu trưởng Trường VH&DL Hải Dương đã ra Quyết định số 09 kỷ luật hình thức buộc thôi việc đối với chị Nhâm theo quy định tại Điều 25 Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. Trường VH&DL Hải Dương khẳng định Quyết định số 09 ngày 05/01/2012 kỷ luật chị Nhâm với hình thức buộc thôi việc là đúng Nghị định số 35/2005/NĐ-CP nên không chấp nhận yêu cầu hủy quyết định và bồi thường các khoản như chị Nhâm đã yêu cầu.

Tại bản án lao động số 01/2014/LĐST ngày 04/7/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 31; khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 29, 30, 52, 59 Luật viên chức; Điều 2, 3, 4, 5, 8, 9, 15, 16, 17, 25 Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định về việc xử lý kỷ luật cán bộ công chức; khoản 3 Điều 166; khoản 1 Điều 167 Bộ luật lao động được sửa đổi, bổ sung năm 2006; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Nhâm yêu cầu hủy Quyết định số 09/QĐ-TCVHNTDL ngày 05/01/2012 của Hiệu trưởng Trường VH&DL Hải Dương buộc Trường VH&DL Hải Dương nhận chị Nhâm trở lại làm việc và bồi thường tiền lương trong những ngày không được làm việc và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/7/2014, Nguyên đơn là chị Phạm Thị Nhâm kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại bản giải trình đơn kháng cáo, chị Nhâm cho rằng Quyết định số 09/QĐ-TCVHNTDL kỷ luật buộc thôi việc chị là một dạng quyết định hành chính, phải được Tòa hành chính thụ lý giải quyết bằng một bản án hành chính; quyết định này đã áp dụng Nghị định 34/2011/NĐ-CP của Chính phủ và không giám định để kết luận về năng lực hành vi dân sự trước khi kỷ luật chị là trái pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết vụ  án liên quan đến kháng cáo.

Tại bản giải trình đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: nguyên đơn bị bệnh tâm thần phân liệt Paranoid F20.0, bệnh của nguyên đơn có liên quan đến năng lực hành vi dân sự, thuộc trường hợp không áp dụng hình thức kỷ luật. Trường VH&DL Hải Dương không giám định tâm thần đối với nguyên đơn mà vẫn tiến hành kỷ luật chị là trái với quy định tại Điều 4 Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ. Do đó, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 09/QĐ-TCVHNTDL ngày 05/01/2012 của Trường VH&DL Hải Dương, buộc Trường VH&DL Hải Dương phải nhận chị Nhâm trở lại làm việc và giải quyết các chế độ cho chị Nhâm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng việc áp dụng pháp luật là không đúng; Quyết định buộc thôi việc không đúng thẩm quyền của Trường VH&DL Hải Dương. Quá trình xử lý kỷ luật chị Nhâm của Trường làm ngược quy trình; biên bản họp xét kỷ luật buộc thôi việc không có giá trị pháp lý; áp dụng Nghị định 34/2011/NĐ-CP là sai, phải áp dụng Nghị định 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 mới đúng; thông báo 16 không giao cho chị Nhâm; chưa xem xét kỷ luật tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 35.

Bị đơn là Trường VH&DL Hải Dương không chấp nhận yêu cầu, căn cứ kháng cáo của nguyên đơn và cho rằng: Quyết định số 09/QĐ-TCVHNTDL ngày 05/01/2012 của Trường VH&DL Hải Dương về việc kỷ luật viên chức đối với chị Phạm Thị Nhâm là có căn cứ, đúng quy định. Theo bệnh án thì chị Nhâm điều trị tại Viện tâm thần Thái Nguyên từ ngày 01/8/2011 đến ngày 07/9/2011, chị Nhâm ra viện với tình trạng tỉnh, tâm thần ổn định. Từ ngày 25/10/2011 chị Nhâm đến cơ quan làm việc bình thường, không có biểu hiện gì khác thường về mặt nhận thức cũng như hành vi nên nhà trường thấy không cần thiết phải giám định tâm thần của chị Nhâm trước khi thi hành kỷ luật đối với chị Nhâm. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác kháng cáo của chị Nhâm, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: tại phiên tòa hôm nay không có tình tiết gì mới so với quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn căn cứ khoản 2 Điều 4 Nghị định 34 nhưng chị Nhâm không thuộc đối tượng này và vì vậy Quyết định 09 kỷ luật chị Nhâm là đúng pháp luật, trình tự họp kỷ luật chị Nhâm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, hồ sơ vụ án thể hiện chị Nhâm là người hoàn toàn bình thường, chị không đi điều trị bệnh tại Bệnh viện. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao sau khi nghe các bên trình bày và tranh luận đã phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo được làm trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong vụ kiện đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cho rằng: Sau khi ra viện, chị Nhâm không đến trường để làm thủ tục xin nghỉ. Ngày 13/10/2011 chị Nhâm mới có đơn xin nghỉ không lương, sau đó chị Nhâm cũng  không biết Nhà trường có đồng ý cho nghỉ hay không. Nhà trường xác định chị Nhâm vi phạm khoản 4 Điều 20 quy chế làm việc của Nhà trường và đây là căn cứ xử lý kỷ luật với chị Nhâm. Tuy nhiên, chị Nhâm xác nhận sau khi ra viện, chị phải điều trị ngoại trú tại Trạm y tế xã Hà Thượng vì vậy chị không có mặt ở trường để làm việc được. Tại bệnh án điều trị bệnh của chị Nhâm cũng xác nhận đây là thể tâm thần phân liệt, tình trạng ra viện tâm thần ổn định nhưng phải điều trị ngoại trú tại địa phương. Cần phải xác định với tình trạng ra viện của chị Nhâm thì có cần phải điều trị ngoại trú không? Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã có công văn 150 ngày 03/02/2015 yêu cầu Viện giám định pháp y tâm thần Trung ương xác định tình trạng tâm thần của chị Nhâm. Và ngày 03/3/2015, Viện pháp y tâm thần Trung ương đã có văn bản phúc đáp rằng phải thực hiện việc giám định đối với tình trạng bệnh tật của chị Nhâm và yêu cầu cung cấp các tài liệu cần thiết để phục vụ việc giám định. Xét thấy, các tài liệu mà Viện pháp y tâm thần Trung ương yêu cầu cung cấp có những tài liệu chưa có trong hồ sơ vụ án, việc thu thập tài liệu chưa đầy đủ mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở trình bày, tranh luận của các bên đương sự, kết luận của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

XÉT THẤY

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 244, thực hiện trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc số 09/QĐ-TCVHNTDL ngày 05/01/2012 của Trường VH & DL Hải Dương thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Luật viên chức. Theo đó Điều 30 Luật viên chức quy định giải quyết tranh chấp liên quan đến chấm dứt hợp đồng làm việc được giải quyết theo quy định của pháp luật về lao động.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự thì khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc của nguyên đơn là chị Phạm Thị Nhâm là tranh chấp về lao động và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng của các bên để thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Kháng cáo của nguyên đơn cho rằng quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định hành chính và phải thụ lý, giải quyết theo tố tụng hành chính là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác đã được triệu tập hợp lệ và có mặt; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo nên vụ án được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn có đủ cơ sở để xác định: Chị Phạm Thị Nhâm tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội năm 2002. Ngày 01/4/2003, chị Nhâm được tuyển dụng làm giáo viên Khoa Âm nhạc - Múa Trường VH&DL Hải Dương. Ngày 01/8/2011, do bị ốm nên chị Nhâm phải nhập Viện Tâm thần Thái Nguyên điều trị đến ngày 07/9/2011 thì được ra viện. Khi ra viện, chị Nhâm được bác sỹ điều trị chỉ định tiếp tục điều trị ngoại trú tại Trại tâm thần Thái Nguyên. Trong và sau thời gian điều trị nội trú, chị Nhâm có làm đơn xin Nhà trường cho nghỉ không lương nhưng không được Nhà trường chấp nhận.

Ngày 25/10/2011, chị Nhâm có mặt theo giấy triệu tập của Trường. Ngày 02/11/2011, chị Nhâm nhận quyết định kỷ luật số 104 ngày 02/11/2011 với hình thức hạ bậc lương, chuyển làm việc khác với lý do: “Vi phạm ý thức, tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức, quy chế chuyên môn, quan hệ xã hội phức tạp gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Trường”. Thời gian kỷ luật là 01 năm kể từ ngày 15/8/2011 (Quyết định này không đúng pháp luật vì ngày có hiệu lực của quyết định chị Nhâm vẫn đang phải điều trị nội trú tại Viện Tâm thần Thái Nguyên). Chị Nhâm không được giảng dạy mà được phân công làm nhân viên Văn phòng Khoa Âm nhạc - Múa. Trong thời gian này, chị Nhâm lại tiếp tục nghỉ việc nhiều ngày không xin phép. Vì vậy, ngày 22/12/2011, Trường VH&DL Hải Dương đã họp xét kỷ luật chị Nhâm. Ngày 05/01/2012, Trường VH&DL Hải Dương đã ban hành Quyết định số 09/QĐ-TCVHNTDL về việc kỷ luật viên chức, buộc thôi việc đối với chị Phạm Thị Nhâm. Chị Nhâm khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 09 nói trên, buộc Nhà trường phải nhận chị trở lại làm việc và khôi phục các quyền lợi của chị theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ vụ kiện thể hiện trình tự, thủ tục kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Phạm Thị Nhâm của Trường VH&DL Hải Dương thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối tượng bị áp dụng hình thức kỷ luật ở đây là chị Phạm Thị Nhâm là giáo viên Khoa Âm nhạc - Múa đang liên tục phải điều trị ngoại trú với chuẩn đoán bệnh “Tâm thần phân liệt thể Paranoid F20.0” của Bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Nguyên (BL 246-248). Trường VH&DL Hải Dương đã căn cứ vào bệnh án khi ra viện của chị Nhâm thể hiện tình trạng “tỉnh - tâm thần ổn định” để xác định chị Nhâm hoàn toàn bình thường và đã xử lý kỷ luật hạ bậc lương và buộc thôi việc đối với chị.

Xét thấy, khoản 2 Điều 3 Nghị định 35/2005/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ ngày 17/3/2005 quy định trường hợp người lao động “đang điều trị bệnh tại các bệnh viện” chưa được xem xét xử lý kỷ luật. Trong vụ án này, chị Phạm Thị Nhâm phải điều trị nội trú một thời gian với chuẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid F20.0. Khi ra viện, chị Nhâm được bác sỹ điều trị chỉ định hướng điều trị là “Điều trị ngoại trú tại Trạm tâm thần Thái Nguyên”. Chị Phạm Thị Nhâm khai thống nhất trong quá trình lấy lời khai của Tòa án cấp sơ thẩm và các phiên tòa là hàng tháng chị vẫn đến khám và lấy thuốc uống theo kê đơn của bác sỹ Trạm tâm thần Thái Nguyên (BL01-10). Lời khai này của chị Nhâm phù hợp với chứng cứ là “Sổ điều trị mạn tính” do Trạm tâm thần Thái Nguyên cấp cho chị Nhâm (bản photocoppy). Sổ này thể hiện thời gian khám và lấy thuốc trong khoảng 10 đến 20 ngày một lần không theo quy luật về thời gian nhưng loại thuốc, lượng thuốc được cấp của các lần là như nhau và cùng một bác sỹ khám, điều trị. Hơn nữa chị Nhâm còn khai sau khi điều trị nội trú, chị cũng đã có thời gian điều trị tại Trạm xá xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh, làm rõ để xác định có việc điều trị ngoại trú như lời khai của chị Nhâm không? Nếu bắt buộc phải điều trị ngoại trú thì trường hợp của chị Phạm Thị Nhâm có thuộc đối tượng “đang điều trị bệnh” theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35 nêu trên hay không để xác định Quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với chị Nhâm có đúng pháp luật không.

Hơn nữa, để xác định chị Nhâm có thuộc đối tượng đang điều trị bệnh theo quy định của pháp luật không thì cần thiết phải giám định sức khỏe tâm thần cho chị Nhâm. Tòa án cấp sơ thẩm đã không thu thập đầy đủ chứng cứ, không giám định sức khỏe tâm thần của chị Nhâm và vì vậy cũng không có kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xem trường hợp bệnh của chị Nhâm có được coi là “đang điều trị bệnh” hay không. Vì vậy, không có căn cứ để xác định quyết định buộc thôi việc đối với chị Phạm Thị Nhâm trong trường hợp này có hợp pháp hay không.

Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội) có công văn số 150/2005/CV-PT ngày 03/02/2015 gửi Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương về việc xác định tình trạng sức khỏe tâm thần của chị Phạm Thị Nhâm. Tuy nhiên, Viện Pháp y tâm thần Trung ương có Công văn số 104/VGĐ ngày 03/3/2015 yêu cầu Tòa phúc thẩm bổ sung 08 loại danh mục tài liệu về đối tượng giám định mà các tài liệu này không có trong hồ sơ vụ kiện và không thể thu thập được ở cấp phúc thẩm.

Từ sự phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chứng minh và thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm trong vụ kiện này chưa được thực hiện đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung. Những yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn sẽ được xem xét giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của nguyên đơn và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đều đưa ra những luận cứ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm trong trường hợp này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ nhận định trên, căn cứ khoản 3 Điều 275; Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là chị Phạm Thị Nhâm; hủy Bản án lao động sơ thẩm số 01/2014/LĐST ngày 04/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết lại theo thủ tục chung.

2. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Nhâm không phải nộp án phí lao động phúc thẩm.

Bản án lao động phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


235
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 03/2015/LĐPT ngày 03/8/2015 về buộc thôi việc

    Số hiệu:03/2015/LĐPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
    Lĩnh vực:Lao động
    Ngày ban hành:03/08/2015
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về