Bản án 03/2018/DS-ST ngày 19/09/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 03/2018/DS-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 19/9/2018, tại trụ sở Toà án nhân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2018/TLST-DS ngày 16/7/2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXX - ST, ngày 04/9/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965

Trú quán: X - Y - C - Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954

Trú quán: K - L - C - Bắc Ninh (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 20/11/2016, ông cho bà Nguyễn Thị M vay 45.000.000 đồng, khi vay bà Nguyễn Thị M viết giấy biên nhận vay tiền với nội dung vay số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), mỗi tháng trả 2.000.000 đồng nợ gốc, lãi suất thỏa thuận miệng với nhau theo quy định của pháp luật. Quá trình thanh toán, bà M đã trả ông 3.000.000 đồng tiền nợ gốc. Cụ thể ngày 22/12/2016 bà M trả 2.000.000 đồng; ngày 25/01/2017, bà M trả 1.000.000 đồng. Ông đã nhiều lần đến yêu cầu bà M phải trả số tiền nợ gốc còn thiếu và tiền lãi nhưng bà M vẫn không trả. Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện C giải quyết buộc bà Nguyễn Thị M phải trả ông số tiền nợ gốc còn thiếu là 42.000.000 đồng, tiền lãi ông không yêu cầu.

Theo bà M trình bày: Bà thừa nhận có vay của ông T số tiền 45.000.000 đồng như ông T đã trình bày là đúng. Trong quá trình thanh toán ngày 22/12/2016, bà có trả ông T 2.000.000 đồng và ngày 25/01/2017, bà trả ông T 1.000.000 đồng. Nay bà xác nhận còn nợ ông T 42.000.000đ tiền nợ gốc. Mặc dù ông T đã nhiều lần yêu cầu bà phải trả số tiền nợ gốc còn thiếu là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng), tiền lãi ông T không yêu cầu, quan điểm của bà số tiền bà vay của ông T bà đã cho người khác vay lại, khi nào bà đòi được bà sẽ có trách nhiệm trả ông T.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm cho rằng: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466, điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 228, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Buộc bà Nguyễn Thị M trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 42.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà M là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị M phải trả ông số tiền nợ gốc còn thiếu là 42.000.000đồng, lời đề nghị của ông T qua xem xét HĐXX nhận thấy: Ngày 20/11/2016, ông Nguyễn Văn T cho bà Nguyễn Thị M vay 45.000.000 đồng, khi vay bà Nguyễn Thị M viết giấy biên nhận vay tiền với nội dung vay số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), mỗi tháng trả 2.000.000đồng nợ gốc. Quá trình thanh toán, bà M đã trả ông T3.000.000đồng tiền nợ gốc. Cụ thể ngày 22/12/2016 bà M trả ông T 2.000.000đồng; ngày 25/01/2017, bà M trả ông T 1.000.000đồng. Nay bà M cũng thừa nhận còn nợ ông T 42.000.000đ tiền nợ gốc. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán và ông T đã nhiều lần đòi nhưng bà M vẫn không trả. Do vậy ông T có quyền đề nghị Tòa án buộc bà M phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc còn thiếu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lãi suất: Ông T không yêu cầu bà M phải trả nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 147, 228, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463,466, điểm b Khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Buộc bà Nguyễn Thị Mphải trả ông Nguyễn Văn T 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T được nhận lại số tiền là 1.000.000 (Một triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001088 ngày 16 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bắc Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án./.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/DS-ST ngày 19/09/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:03/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về