Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/02/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 588/2017/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1979

HKTT: Ấp Đ, xã H, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1982

HKTT: Khu phố 6, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 21/9/2017, bản tự khai ngày 25/10/2017, biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 15/12/2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn (chị H) trình bày:

Chị H, anh N chung sống với nhau từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương vào ngày 04/12/2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 179, quyển số 02/2015.

- Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/10/2015, chị H yêu cầu được trưc tiêp chăm soc, nuôi dương con chung;không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lý do xin ly hôn: Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn bất đồng quan điểm do không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, không còn yêu thương nhau, sống chung không có hạnh phúc nên không còn sống chung từ đầu năm 2017 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị H yêu cầu ly hôn với anh N.

Đối với bị đơn:

Đối với bị đơn anh Trần Văn N: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho anh N biết để anh N thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng phía anh N vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chứng cứ, tài liệu được Hội đồng xét xử xem xét gồm:

- 01 Giấy chứng nhận kết hôn 179, quyển số 02/2015 ngày 04/12/2015 (bản Chính);

- 01 Biên bản xác minh ngày 11/10/2017 (bản chính);

- 01 Biên bản xác minh ngày 23/11/2017 (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Từ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 179, quyển số 02/2015 ngày 04/12/2015. Như vậy, quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/10/2015.

[3] Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Tòa án đã cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Tại biên bản xác minh ngày 11/10/2017, Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương xác nhận bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố 6, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Bị đơn ở cùng nhà với mẹ ruột tên Lê Thị H1. Như vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ cho bị đơn thông qua bà Lê Thị H1 là đúng với quy định tại Khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Tại biên bản xác minh ngày 23/11/2017 thể hiện: Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do quá trình chung sống, hai bên không hợp tính tình và không hòa hợp lối sống của nhau nên thường xuyên xảy ra gây gổ, cãi vã. Vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống chung không có hạnh phúc nên không còn sống chung từ đầu năm 2017 cho đến nay. Bị đơn có biết nguyên đơn làm đơn xin ly hôn nhưng do công việc bận nên không lên Tòa án giải quyết được.

[8] Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập… và lý do chính đáng khác”.

Như vậy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình để cùng nhau nuôi dạy các con, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ. Thế nhưng tình nghĩa vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được những điều đó. Mặt khác, bị đơn biết nguyên đơn làm đơn xin ly hôn nhưng bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án để đến giải quyết việc ly hôn. Như vậy, bị đơn không mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với nguyên đơn. Từ lời khai của nguyên đơn, sự không thiện chí của bị đơn và kết quả xác minh cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do vậy có căn cứ chấp nhận.

[9] Con chung: Quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/10/2015, nguyên đơn yêu câu đươc trưc tiêp chăm soc, nuôi dương con chung; không yêu câu bị đơn câp dương nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay con chung đang do nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện nay cháu B dưới 36 tháng tuổi nên tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đúng với quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích cho nguyên đơn biết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 82 và quyền của nguyên đơn theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên được Tòa án ghi nhận.

[10] Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[11] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[12] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

-  Các Điều 28, 39, 147, 177, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 8, 9, 19, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày  30/12/2016  của Ủy ban Thương vu Quôc h ội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng an phi và lê phi Toa an.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Bùi Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Trần Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 05/10/2015 cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị Bùi Thị H không yêu cầu nên anh Trần Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu câu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0005733 ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/02/2018).

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về