Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 26/01/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/01/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 26/01/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 261/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017, về việc “xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/01/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1989 - Có mặt

Địa chỉ: Ấp 7, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Tống Văn T, Sinh năm: 1988 - Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp 7, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân:

Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 9 năm 2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyên Thị T trình bày: Vào ngày 05/12/2012 bà T và ông T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hưng. Trước khi kết hôn hai bên có tìm hiểu nhau khoảng bốn năm, sau khi kết hôn sống vợ chồng sống tự lập tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi nhau do bất đồng quan điểm. Bà T nhận thấy không thể sống chung với nhau được nay bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung:

Bà T và ông T có một người con chung tên là Tống Thị Thùy T - sinh ngày 05/10/2013 hiện đang ở với bà T. Khi ly hôn bà T xin nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ngoài ra vợ chồng không có con nuôi và hiện tại bà không có thai với ông T.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết về nợ chung: Không có.

Tại biên bản tự khai ngày 20/10/2017 Bị đơn ông Tống Văn T trình bày: Ông T và bà T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hưng, trong thời gian sống chung thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, ông T đồng ý ly hôn với bà T. Hai vợ chồng có một người con chung tên Tống Thị Thùy T sinh năm 2013, khi ly hôn ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Tống Văn T, ông T, bà T có hộ khẩu và xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, được quy định tại điều 28, điều 35 và điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông T vắng mặt nhiều lần mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông T theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chung sống giữa bà Nguyễn Thị T và ông Tống Văn T phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải, ông T vắng mặt, tại phiên tòa hôm nay bà T xác định không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu được ly hôn. Tại biên bản tự khai ông T đồng ý ly hôn. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà T được ly hôn với ông T.

Về con chung:

Bà T và ông T có một người con chung tên là Tống Thị Thùy T - sinh ngày 05/10/2013 hiện đang ở với bà T.Tại phiên tòa bà có yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Tại bản tự khai ông T đồng ý cấp dưỡng cho người con mỗi tháng 1.500.000đồng và xét thấy người con còn nhỏ tuổi nên giao cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi, xét thấy đây là sự tự nguyện nên chấp nhận yêu cầu của bà T về việc yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000đ

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà Thanh phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng). Ông T chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T; về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Tống Văn T về con chung: Giao người con tên Tống Thị Thùy T - sinh ngày 05/10/2013 cho bà Thanh nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Tống Văn T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi người con Tống Thị Thùy T - sinh ngày 05/10/2013 mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi người con 18 tuổi.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Thanh chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0014905 ngày 16/10/2017. Ông Tống Văn T chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn, có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 26/01/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về