Bản án 03/2018/KDTM-ST ngày 06/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 03/2018/KDTM-ST NGÀY 06/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 06/2018/TLST-KDTM ngày 16/7/2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-KDTM ngày 14/9/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần DA (DA Bank).

Địa chỉ trụ sở chính: Số 10 PL, phường 3, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ chi nhánh Hà Nam: Số 122, đường B, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T; chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T; chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người được ủy quyền lại: Ông Đỗ Xuân T; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần DA - Chi nhánh Hà Nam (theo Quyết định ủy quyền số 1600/QĐ-DAB-PC ngày 15/11/2017 của TGĐ Ngân hàng TMCP DA).

Người được ông Đỗ Xuân T ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đào Thế N, sinh năm 1982; chức danh: Chuyên viên thẩm định Ngân hàng Thương mại cổ phần DA - Chi nhánh Hà Nam (theo Giấy ủy quyền số 14/QĐ-DAB-HNM ngày 01/8/2018).

* Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng, thương mại, vận tải NT.

Địa chỉ trụ sở: Tổ 3, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá L; chức vụ: Giám đốc Công ty.

Phiên tòa có mặt ông Đào Thế N; ông Nguyễn Bá L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2018 và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần DA (viết tắt là DA Bank) trình bày: Ngân hàng TMCP DA - Chi nhánh Hà Nam và Công ty TNHH xây dựng, thương mại, vận tải NT (viết tắt là Công ty NT) do ông Nguyễn Bá L - Giám đốc đại diện ký hợp đồng tín dụng số H0320/1/NT ngày 17/10/2013 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số H0320/NT-PLHĐ ngày 10/11/2014, sau đó thay thế bằng hợp đồng vay vốn số H0480/1 ngày 10/11/2014 về việc Ngân hàng DA cho Công ty NT vay số tiền là 250.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng với lãi suất 10,5%/năm để bổ sung vốn lưu động. Để đảm bảo việc thanh toán khoản nợ vay, Công ty NT đã thế chấp tài sản của Công ty là chiếc xe ôtô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát: 90T- 62… có giá trị là 400.000.000 đồng cho Ngân hàng DA theo hợp đồng thế chấp số H0148/1/HĐTC ngày 10/02/2012 và Phụ lục hợp đồng số H0148/1/PLBL ngày 10/11/2014. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty NT mới chỉ thanh toán, trả cho Ngân hàng được số tiền 12.900.000 đồng nợ gốc, 11.739.585 đồng lãi trong hạn và 47.000.000 đồng lãi quá hạn. Do đến hạn trả nợ, Công ty NT không thanh toán trả được số tiền vay nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn đồng thời tiến hành các biện pháp đôn đốc trả nợ, làm việc trực tiếp nhưng cho đến nay Công ty NT vẫn không thanh toán trả thêm được khoản tiền nào cho Ngân hàng. Tính đến 31/05/2018, Công ty NT còn nợ Ngân hàng DA số tiền 237.100.000 đồng nợ gốc, 1.531.350 đồng lãi trong hạn và 72.381.238 đồng lãi quá hạn, tổng cộng là 311.012.488 đồng. Nay Ngân hàng DA khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty NT phải thanh toán trả ngay toàn bộ số nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn còn tồn đọng tính đến 31/05/2018 và trả lãi quá hạn phát sinh sau ngày 31/05/2018 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng. Trường hợp Công ty NT không thực hiện yêu cầu trả nợ thì đề nghị xử lý tài sản Công ty đã thế chấp cho Ngân hàng theo nội dung hợp đồng thế chấp giữa các bên để đảm bảo việc thu hồi vốn Ngân hàng đã cho vay.

Trong quá trình tố tụng, người đại diện theo pháp luật của bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt hoặc cử người đại diện tham gia tố tụng để giải quyết vụ án, không có ý kiến, quan điểm về việc bị khởi kiện cũng như đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng, đầy đủ về quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành cũng như không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp trong vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vể thủ tục tố tụng, thời hiệu khởi kiện và áp dụng pháp luật dân sự:

Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các pháp nhân có đăng ký kinh doanh và vì mục đích lợi nhuận; bị đơn có trụ sở tại tổ 3, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 30, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Tranh chấp dân sự trong vụ án thuộc trường hợp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về việc áp dụng pháp luật dân sự: Do giao dịch dân sự trong vụ án được xác lập và thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực và có tranh chấp nên cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn trong vụ án đã được Tòa án tống đạt, niêm yết giấy triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mà không có người khác đại diện tham gia phiên tòa nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng DA (DA Bank) đối với Công ty NT, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 10/11/2014, Công ty NT do ông Nguyễn Bá L - Giám đốc đại diện đã ký với Ngân hàng TMCP DA- Chi nhánh Hà Nam hợp đồng vay vốn số H0480/1 vay số tiền 250.000.000 đồng với thời hạn vay là 06 tháng, lãi suất 10,5%/năm để bổ sung vốn lưu động. Hợp đồng được giao kết trên cơ sở thỏa thuận và tự nguyện giữa các bên, nội dung, hình thức hợp đồng không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên hoàn toàn hợp pháp. Để đảm bảo việc thanh toán khoản nợ vay, Công ty NT còn tự nguyện thế chấp tài sản của Công ty là chiếc xe ôtô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát: 90T- 62… có giá trị 400.000.000 đồng cho Ngân hàng. Do quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty NT đã không thực hiện việc trả nợ đúng hạn, có lỗi trong việc không thực hiện các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nghĩa vụ thanh toán trả khoản tiền nợ gốc đã vay, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo lãi suất thỏa thuận giữa các bên quy định trong hợp đồng vay vốn cho Ngân hàng. Do Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu Công ty NT thanh toán trả khoản nợ đã vay nhưng đại diện Công ty luôn lảng tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên xét yêu cầu của Ngân hàng buộc Công ty NT phải trả ngay các khoản tiền gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn chưa thanh toán là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật tại các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản Công ty NT đã thế chấp khi vay vốn trong trường hợp Công ty không thực hiện việc trả nợ thấy: Việc các bên ký kết hợp đồng thế chấp số H0148/1/HĐTC ngày 10/02/2012 và Phụ lục hợp đồng số H0148/1/PLBL ngày 10/11/2014 là hoàn toàn tự nguyện, trên cơ sở thỏa thuận và tuân thủ các quy định của pháp luật, mục đích là để đảm bảo việc thanh toán khoản nợ Công ty NT đã vay. Hợp đồng thế chấp được cơ quan công chứng có thẩm quyền chứng thực nên hợp pháp theo quy định. Do việc xử lý tài sản đã thế chấp là một trong những biện pháp đảm bảo việc thu hồi khoản vốn cho vay của Ngân hàng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ được pháp luật bảo hộ, vì vậy yêu cầu nêu trên của Ngân hàng là có căn cứ, cần chấp nhận, giữ nguyên tài sản Công ty NT đã thế chấp khi vay vốn là chiếc xe ôtô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát: 90T- 62… để đảm bảo thi hành án sau này nếu Công ty không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngân hàng được hoàn trả lại khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 155 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 471, 474 và Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP DA: Buộc Công ty TNHH xây dựng, thương mại, vận tải NT phải thanh toán, trả cho Ngân hàng TMCP DA - Chi nhánh Hà Nam số tiền gồm nợ gốc là 237.100.000 đồng, lãi trong hạn là 1.531.350 đồng và lãi quá hạn tính đến hết ngày 06/11/2018 là 88.874.406 đồng, tổng cộng là 327.505.756 đồng (ba trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm linh năm nghìn, bảy trăm năm mươi sáu đồng).

Công ty NT còn phải trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 07/11/2018 theo mức lãi suất quá hạn quy định trong hợp đồng vay vốn (bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn) cho đến khi trả nợ xong.

Giữ nguyên tài sản của Công ty NT đã thế chấp cho Ngân hàng khi vay vốn là chiếc xe ôtô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát: 90T- 62… màu vàng; số máy: 69896780, số khung: 383001235; giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số:

001580 do công an tỉnh Hà Nam cấp ngày 30/06/2009 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH xây dựng, thương mại vận tải NT theo hợp đồng thế chấp số H0148/1/HĐTC ngày 10/02/2012 và Phụ lục hợp đồng số H0148/1/PLBL ngày 10/11/2014 để đảm bảo thi hành án.

2. Án phí: Công ty TNHH xây dựng, thương mại vận tải NT phải nộp 16.376.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ngân hàng TMCP DA - Chi nhánh Hà Nam được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.775.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2015/0001847 ngày 16/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/KDTM-ST ngày 06/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:03/2018/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 06/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về