Bản án 03/2019/DSST ngày 15/05/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 03/2019/DSST NGÀY 15/05/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện R, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/ 2018/TLST- DS ngày 28 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST - DS ngày 10/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số02/2019/QĐST-DSngày 26/4/2019 của Toà án nhân dân huyện R, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T , sinh năm 1982

Địa chỉ: Đội 1, thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, đương sự có mặt tại phiên tòa

2. Bị đơn: Anh Võ Văn U, sinh năm 1979, địa chỉ: thôn A, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

3. Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn F, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Vào ngày 29 tháng 9 năm 2015, anh Võ Văn U viết “Giấy mượn tiền” ghi nhận có vay của chị số tiền 60.000.000đồng, anh U viết trong giấy hẹn một tháng sau sẽ trả đủ tiền cho chị. Nhưng kể từ đó đến nay anh U không trả nợ cho chị, mặc dù chị đã nhiều lần yêu cầu anh U trả nợ. Mỗi lần chị đến đòi nợ thì anh U đều trốn tránh không gặp mặt chị.

Vì vậy, nay chị yêu cầu anh Võ Văn U phải có nghĩa vụ trả cho chị số tiền 60.000.000đồng, chị không yêu cầu anh Võ Văn U phải trả tiền lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện R đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Võ Văn U, nhưng anh Võ Văn U đều vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai và không hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Võ Văn U phải trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền nợ gốc là 60.000.000đồng. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; Công an xã E cung cấp thông tin bị đơn là anh Võ Văn U vẫn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Thôn A, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, hiện nay anh Võ Văn U không có mặt tại nơi cư trú, anh Võ Văn U đi đâu, làm gì địa phương không rõ. Tại địa chỉ này hiện nay trang trại và nơi ở của anh Võ Văn U vẫn còn tồn tại, vì vậy vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện R theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong “ Giấy mượn tiền” lập ngày 29/9/2015, anh Võ Văn U ghi địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú là Thôn A, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đơn khởi kiện, chị Nguyễn Thị Thanh T đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của anh Võ Văn U.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 277 và khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”.

Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định: “ a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;” 

Nhưng từ tháng 01/2019 đến nay anh Võ Văn U đã đi khỏi địa phương, thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho chị Nguyễn Thị Thanh T biết về nơi cư trú mới nên theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định thì được coi là cố tình giấu địa chỉ, vì vậy vụ án sẽ được xét xử theo thủ tục chung. 

Anh Võ Văn U và vợ là chị Lâm Ngọc Ánh N đã bỏ đi khỏi địa phương, gửi ba người con của anh, chị cho cha mẹ đẻ của chị N ở tại xã M, huyện R nuôi dưỡng, Tòa án cũng đã xác minh và cha đẻ của chị N là ông Lâm Sỹ H1 đã cung cấp thông tin anh Võ Văn U đi khỏi địa phương, không về thăm con, gia đình ông không biết anh Võ Văn U hiện cư trú, làm việc ở đâu.

Tại phiên tòa ngày 26/4/2019, anh Võ Văn U vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 15/5/2019, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Võ Văn U vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Văn U.

[3] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Thanh T cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản chính “Giấy mượn tiền” lập ngày 29/9/2015 có tên người viết và ký giấy mượn tiền là anh Võ Văn U. Chị Nguyễn Thị Thanh T cũng đã thực hiện việc gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho anh Võ Văn U qua đường bưu chính, Tòa án cũng đã thực hiện thực hiện niêm yết đấy đủ các văn bản tố tụng tại nơi ở, Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của anh Võ Văn U và tại Tòa án, nhưng anh Võ Văn U không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho quyền lợi của mình.

Người làm chứng là anh Nguyễn Hữu H trình bày vào khoảng tháng 9 năm 2015 anh H đã đưa anh Võ Văn U đến gặp chị Nguyễn Thị Thanh T để đặt vấn đề vay tiền. Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến giữa năm 2018 có bốn lần anh H đưa chị T đi đến nhà anh U gặp anh U để đòi nợ số tiền 60.000.000đồng và anh H có nghe thấy anh U hứa hẹn việc trả nợ cho chị T. Bản thân anh H cũng đã trực tiếp gặp anh U để nhắc nhở về việc trả nợ cho chị T.

Theo “Giấy mượn tiền” lập ngày 29/9/2015 có tên người viết và ký giấy mượn tiền là anh Võ Văn U, thể hiện chị Nguyễn Thị Thanh T có cho anh Võ Văn U mượn số tiền 60.000.000đồng, thời hạn trả là một tháng sau khi mượn tiền, tuy nhiên, đến nay đã quá hạn nhưng anh Võ Văn U vẫn không trả tiền nên chị Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu anh Võ Văn U phải có nghĩa vụ trả số tiền 60.000.000đồng là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Chị Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu anh Võ Văn U phải trả tiền lãi do chậm trả, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn U phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T, buộc bị đơn là anh Võ Văn U phải trả cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền là 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Võ Văn U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.000.000đồng.

- Chị Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T số tiền 1.500.000đồng mà chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0004305 ngày 28/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện R.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


60
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về