Bản án 03/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 03/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 04 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 6 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/62019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1993; địa chỉ nơi cư trú và nơi làm việc: Xóm Đ, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Hà Thị M, sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú và nơi làm việc: Xóm Đ, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình.Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 29/3/2019, bản tự khai ngày 11/4/2019 và tại phiên tòa. Nguyên đơn là anh Hà Văn Đ đã trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn Đ và chị Hà Thị M qua tìm hiểu đã kết hôn với nhau là tự nguyện, được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Tòng Đậu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/12/2012. Sau khi kết hôn anh Đ và chị M sống chung với gia đình nhà anh Đ tại xóm Đ, xã T, huyện Mu, tỉnh Hòa Bình. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm và không hợp nhau về lối sống, tính cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù anh Đ và chị M đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn không giải quyết được. Nhận thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, hôn nhân hiện tại chỉ tồn tại về mặt pháp lý. Vì vậy anh Hà Văn Đ đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hà Thị M.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Hà Văn Đ và chị Hà Thị M không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với chị Hà Thị M, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu đã tiến hành tống Đ hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Hà Thị M nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Hà Thị M không có văn bản nào gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn Đ và cố tình không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu phát biểu quan điểm về vụ án như sau:

- Qua kiểm sát quá trình giải quyết vụ án thấy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu. Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Mai Châu đã thụ lý, thu thập các tài liệu chứng cứ và tiến hành niêm yết theo thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, cố tình trốn tránh gây khó khăn cho công tác giải quyết vụ án của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án: Hôn nhân giữa anh Đ và chị M là hợp pháp. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày tại phiên tòa của anh Đ thấy đã đủ căn cứ cho ly hôn và giải quyết việc không có con chung, tài sản chung nợ chung theo yêu cầu của đương sự, chấp nhận là có căn cứ pháp luật, quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Ngoài ra đề nghị xem xét giải quyết các vấn đề cần giải quyết khác trong vụ án đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Mai Châu tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2019 anh Hà Văn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Hà Thị M, nơi cư trú : Xóm Đ, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mai Châu thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[3]Trước phiên họp và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, anh Hà Văn Đ không yêu cầu đương sự khác cung cấp chứng cứ cho mình. Tại các biên bản xác minh ngày 09/5/2019 thể hiện: Chị Hà Thị M có mặt tại địa phương, cán bộ UBND xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình đã đến nhà chị Hà Thị M để tống Đ thông báo thụ lý vụ án số: 28/2019/TB-TLVA ngày 05/4/2019; Giấy triệu tập số: 71/2019/GTT-TA ngày 22/4/2019; Giấy triệu tập số: 81/2019/GTT-TA ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu cho chị Hà Thị M. Tuy nhiên chị Hà Thị M cố tình trốn tránh, không hợp tác và không ký nhận những văn bản trên, do đó cán bộ UBND xã T đã giao lại cho người nhà, hiện đang cùng sinh sống cùng nhà với chị Hà Thị M là bà Hà Thị S. Quá trình giao nhận bà Hà Thị S đã cam kết sẽ giao lại trực tiếp những văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu cho chị Hà Thị M để làm căn cứ giải quyết vụ án theo thủ tục Tố tụng dân sự.

[5]Về xét xử vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn chị Hà Thị M vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng huặc trở ngại khách quan mặc dù đã được tống Đ, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, cũng như đảm bảo thời hạn tố tụng Tòa án.

[6]Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Hà Văn Đ và chị Hà Thị M là tự nguyện, hợp pháp, được UBND xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với nhau tại xóm Đ, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Lời khai của anh Đ thể hiện trong quá trình chung sống do không hợp, không hiểu nhau không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau và tại biên bản xác minh ngày 09/5/2019 đại diện gia đình có ý kiến mức độ mâu thuẫn đã trầm trọng, khi sống chung hay cãi nhau, vợ chồng không hạnh phúc. Như vậy đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc không Đ được. Do vậy cần chấp nhận giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của anh Hà Văn Đ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[7]Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Hà Văn Đ trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[8]Về án phí: Anh Hà Văn Đ phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9]Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn chị Hà Thị M vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 ; Điều 278 ; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ: khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Hà Văn Đ đối với chị Hà Thị M. Xử cho anh Hà Văn Đ được ly hôn chị Hà Thị M.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh Hà Văn Đ và chị Hà Thị M không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Anh Hà Văn Đ phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0000802 ngày 05/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu. Anh Hà Văn Đ đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:03/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Châu - Hoà Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về