Bản án 04/2016/HSST ngày 04/02/2016 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 04/2016/HSST NGÀY 04/02/2016 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 02 năm 2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2015/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2015 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí N, sinh năm 1966 tại PH, Hậu Giang; trú tại: ấp A, xã T, huyện P, Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Nguyễn Hiền L (Chết), và bà: Đặng Thị H; có vợ là: Nguyễn Thị Thu V, và 02 người con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2015 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bùi Thị Thúy L

Trú tại: ấp T, xã L, huyện P, Cần Thơ. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Chí N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 12/10/2015, lực lượng Công an huyện Phụng Hiệp kết hợp với Phòng PC47- Công an tỉnh Hậu Giang và Công an xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành A tiến hành bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Chí N. Quá trình bắt Nguyễn Chí N, lực lượng Công an phát hiện Nguyễn Thành L đang sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Nguyễn Chí N tại phòng trọ số 2, nhà trọ TN. Tang vật thu giữ được gồm có: 05 ống kim tiêm (Trong đó có 03 ống đã qua sử dụng), 02 lưỡi dao lam, 01 bóp da màu vàng bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thành L, 01 hộp quẹt gas màu trắng, 01 sim điện thoại, 01 thẻ nhớ điện thoại, 01 gói giấy bạc và 01 bọc nylon bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy, 227.000đ tiền Việt Nam.

Tại kết luận giám định số 176/KLGĐ-PC54 ngày 14/10/2015 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:

- Chất rắn màu trắng bên trong bọc nylon là chất ma túy chứa thành phần Hêrôin, trọng lượng: 0,043gam, hàm lượng: 65,04%.

- Chất rắn màu trắng bên trong gói giấy bạc là chất ma túy chứa thành phần Hêrôin, trọng lượng: 0,0134gam, hàm lượng 67,11%. Không hoàn trả mẫu vật do sử dụng hết trong quá trình giám định.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Phụng Hiệp tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Chí N, quá trình khám xét đã thu giữ các vật chứng sau:

- 01 thùng mốp bên trong có 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng);

- 01 túi nylon bên trong có nhiều bịch nylon nhỏ;

- 02 lưỡi dao lam đã qua sử dụng;

- 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng);

- 01 lon nhôm bên trong có 38 đoạn ống nhựa màu trắng;

- 01 tấm bảng học sinh màu đen;

- 01 bịch nylon màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy.

Tại kết luận giám định số 177/KLGĐ-PC54 ngày 14/10/2015 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:

Chất rắn màu trắng trong gói giấy bạc bên trong bao thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Chí N, người chứng kiến Võ Kỳ S và Điều tra viên Nguyễn Văn Bình gửi giám định là chất ma túy chứa thành phần Hêrôin, trọng lượng: 10,0998gam, hàm lượng: 63,93%. Như vậy trọng lượng Hêrôin trong mẫu vật giám định là 6,4568gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Chí N cho rằng chất ma túy thu giữ tại nhà của Nguyễn Chí N là của Nguyễn Thành L.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có:

- 01 vỏ bao gói mẫu được để trong bao thư niêm phong số 177/KLGĐ- PC54 có chứa mẫu vật sau khi giám định còn lại 8,3845gam;

- 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Chí N;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Bùi Thị Thúy L;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave SD, biển số 65G1-039.00;

- 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng);

- 01 túi nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon màu trắng loại nhỏ;

- 02 lưỡi lam đã qua sử dụng;

- 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng);

- 01 lon nhôm có chứa 38 đoạn ống nhựa màu trắng;

- 01 tấm bảng học sinh màu đen;

- 01 bịch nylon màu trắng trong suốt;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia C2 màu xanh-đen và 01 sim điện thoại số 0907 910 349 đã qua sử dụng;

- 3.900.000đ tiền Việt Nam;

- 02 đô la Mỹ.

Toàn bộ vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp quản lý. Các vật chứng thu giữ tại nhà trọ TN đã được trao trả cho Nguyễn Thành L.

Tại Cáo trạng số 02/QĐ-KSĐT ngày 08/12/2015 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố Nguyễn Chí N về tội “Tàng trữ trái phep chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù; về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao gói mẫu được để trong bao thư niêm phong số 177/KLGĐ-PC54 có chứa mẫu vật sau khi giám định còn lại 8,3845gam, 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng), 01 túi nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon màu trắng loại nhỏ, 02 lưỡi lam đã qua sử dụng, 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng), 01 lon nhôm có chứa 38 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 tấm bảng học sinh màu đen, 01 bịch nylon màu trắng trong suốt; giao trả cho bị cáo 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Chí N, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Bùi Thị Thúy L, 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave SD, biển số 65G1-039.00, 01 điện thoại di động hiệu Nokia C2 màu xanh-đen và 01 sim điện thoại số 0907 910 349 đã qua sử dụng, 3.900.000đ tiền Việt Nam, 02 đô la Mỹ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cho rằng số lượng ma túy thu giữ tại nhà của bị cáo trong quá trình khám xét không phải là của bị cáo, mà là của Nguyễn Thành L. Xét lời khai của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ: Bị cáo đang sống chung với mẹ của bị cáo là bà Đặng Thị H, nhưng bà H đã lớn tuổi không còn minh mẫn, nên bà H không có động cơ, mục đích tàng trữ ma túy. Qua đối chất Nguyễn Thành L không thừa nhận số ma túy trên là của Nguyễn Thành L, mà cho rằng bị cáo là người tàng trữ ma túy để bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy, bản thân L cũng là người được bị cáo thuê bán ma túy cho bị cáo để được bị cáo cho sử dụng ma túy miễn phí. Tại biên bản nhận dạng (bút lục số 48-49), Phạm Thành N, là bị cáo trong vụ án khác xác định chính bị cáo là người giao ma túy cho N đi bán; tại biên bản nhận dạng (bút lục số 44-47), Nguyễn Văn T và Trần Văn S xác định bị cáo là người đã bán ma túy cho T và S. Mặt khác, lời khai của những người làm chứng Võ Thị Ái N, Lê Anh K, Lư Diệu H, Trương Anh T (là những người hàng xóm của bị cáo) cũng xác định có biết bị cáo buôn bán ma túy; lời khai của người làm chứng Phạm Thị Hồng H (là em dâu của bị cáo) tại bút lục số 107-108 cho rằng bị cáo bán ma túy cho các con nghiện; các đối tượng nghiện ma túy là Nguyễn Văn N và Nguyễn Trọng N cũng xác định đã mua ma túy của bị cáo (bút lục số 92-97 và 105-106). Tại phiên tòa bị cáo cũng thừa nhận số vật chứng thu giữ cùng lúc với chất ma túy tại nhà của bị cáo gồm: 01 thùng mốp bên trong có 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng); 01 túi nylon bên trong có nhiều bịch nylon nhỏ; 02 lưỡi dao lam đã qua sử dụng; 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng); 01 lon nhôm bên trong có 38 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 tấm bảng học sinh màu đen là của bị cáo. Do đó, có căn cứ xác định việc bị cáo sử dụng ma túy, bán ma túy, thuê người khác bán ma túy cho các con nghiện là có thật.

Xâu chuỗi các sự kiện từ việc bị cáo sử dụng ma túy, bán ma túy cho các con nghiện, thuê các con nghiện bán ma túy rồi trả công bằng việc cho các con nghiện này sử dụng ma túy miễn phí, đến việc cơ quan điều tra khám xét và thu giữ ma túy cùng các công cụ sử dụng ma túy và phân chia ma túy tại nhà của bị cáo, đã có cơ sở kết luận: Số lượng ma túy có trọng lượng 10,0998gam, có chứa thành phần Hêrôin với với hàm lượng 63,93% (tương đương 6,4568gam), được cơ quan điều tra thu giữ tại nhà của bị cáo vào ngày 12/10/2015 là do bị cáo tàng trữ, nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự, với tình tiết định khung “Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân và thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã bất chấp các chế tài của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật để thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Chất Hêrôin là một loại chất ma túy gây nghiện, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người sử dụng cũng như lối sống lành mạnh của cộng đồng, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được tác hại này, nhưng chỉ vì mục đích thu lợi bất chính cũng như thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã bất chấp những tác hại từ hành vi của mình có thể gây ra cho cộng đồng, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây bức xúc trong dư luận của quần chúng nhân dân. Mặt khác, xét bị cáo đã từng có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy đến nay bị cáo đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không những không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, ngược lại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn. Từ đó cũng đủ thấy bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, có ý thức xem thường pháp luật cao, đồng thời quá trình điều tra bị cáo quanh có chối tội, chưa thể hiện được thái độ ăn năn hối cải, nên không thể xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn thật nghiêm khắc đối với bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, tạo sự đồng thuận trong dư luận quần chúng nhân dân, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Về vật chứng: Các vật chứng gồm: 01 vỏ bao gói mẫu được để trong bao thư niêm phong số 177/KLGĐ-PC54 có chứa mẫu vật sau khi giám định còn lại 8,3845gam chất ma túy; 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng); 01 túi nylon bên trong có chứa nhiều bịch nylon màu trắng loại nhỏ; 02 lưỡi dao lam đã qua sử dụng; 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng); 01 lon nhôm có chứa 38 đoạn ống nhựa màu trắng; 01 tấm bảng học sinh màu đen; 01 bịch nylon màu trắng trong suốt là công cụ phạm tội và vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng khác gồm: 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Chí N; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Bùi Thị Thúy L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave SD, biển số 65G1-039.00; 01 điện thoại di động hiệu Nokia C2 màu xanh-đen và 01 sim điện thoại số 0907 910 349 đã qua sử dụng; 3.900.000đ tiền Việt Nam; 02 đô la Mỹ là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần giao trả lại cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chí N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194; Điều 33 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí N 09 (Chín) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/10/2015.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao gói mẫu được để trong bao thư niêm phong số 177/KLGĐ-PC54 cùng mẫu vật chứa bên trong sau khi giám định còn lại 8,3845gam chất ma túy; 10 ống kim tiêm (trong đó có 06 ống đã qua sử dụng); 01 túi nylon cùng nhiều bịch nylon màu trắng loại nhỏ chứa bên trong túi nylon; 02 lưỡi dao lam đã qua sử dụng; 02 bịch bông gòn (trong đó có 01 bịch đã qua sử dụng); 01 lon nhôm cùng 38 đoạn ống nhựa màu trắng chứa bên trong lon nhôm; 01 tấm bảng học sinh màu đen; 01 bịch nylon màu trắng trong suốt.

Giao trả cho bị cáo: 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Chí N; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Bùi Thị Thúy L; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave SD, biển số 65G1-039.00; 01 điện thoại di động hiệu Nokia C2 màu xanh-đen và 01 sim điện thoại số 0907 910 349 đã qua sử dụng; 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam; 02 (Hai) đô la Mỹ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú./.


188
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 04/2016/HSST ngày 04/02/2016 về tàng trữ trái phép chất ma túy

    Số hiệu:04/2016/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phụng Hiệp - Hậu Giang
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:04/02/2016
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về