Bản án 04/2018/DS-ST ngày 17/05/2018 về tranh chấp bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 04/2018/DS-ST NGÀY 17/05/2018  VỀ TRANH CHẤP BỐI THƯỜNG DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM HẠI

Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2017 về Tranh chấp bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1969; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; trú tại: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

+ Ông Hà Trọng G, sinh năm 1974; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Vào khoảng 10h 30 phút ngày 17/4/2017 bà đến đám tang của ông Trương Tiến L vợ là bà Nguyễn Thị Đ ở thôn B, xã Q để thăm viếng ông Trương Tiến L qua đời. Sau khi bà thắp nhang thăm viếng trước linh cữu ông L song bà từ trong nhà đi ra đến thềm nhà bà Đ chưa kịp đeo dép vào chân, bà Nguyễn Thị Q từ đâu xông đến trước mặt bà Q dùng những lời nói thô bạo tục tĩu chưởi bà, đuổi bà, đe dọa định đánh bà, để thực hiện ý đồ bôi nhọ danh dự bà, làm nhục bà trước nơi đông người để làm mất uy tín của bà, bà Q nói rằng “L mày là con quỷ, mày là con chó ai cho mày đến đây tiên sư nhà mày, mày cút ngay không mày chết bây giờ” với hành vi hùng hổ táo tợn của bà Q làm cho bà bất ngờ hẫng hụt choáng váng, tối mắt, ức chế bàng hoàng, hoảng sợ như muốn gục ngã tại chỗ, không phản ứng được gì may mắn có mọi người đỡ bà và dìu bà ngồi xuống ghế và có anh Hà Trọng G trưởng công an xã Q là cháu rể của chủ nhà đã can ngăn đẩy bà Q ra nơi khác mà bà Q vẫn tiếp tục chưởi bới và đe dọa để đánh bà. Sau đó bà được nhiều người động viên bà bình tĩnh ngồi nghỉ khoảng 30 phút sau đó bà ra về trên đường về an toàn. Việc bà Q xúc phạm bà là một đảng viên, một trạm trưởng trạm y tế tại đám tang là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà.

Với hành vi của bà Quyết như trên, thì chủ tịch UBND xã Q đã có Quyết định số 21/QĐ-CTUBND ngày 03/05/2017 xử phạt hành chính đối với bà Q hình thức cảnh cáo.

Việc bà Q xin lỗi bà tại Tòa án bà không nhất trí và vẫn đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Q bồi thường thiệt hại cho bà như sau:

Bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín, uy hiếp bạo lực về tinh thần, đe dọa xâm hại thể xác là 12.100.000 đồng (Mười  hai triệu một trăm mười nghìn đồng).

Buộc bà Q phải bồi thường toàn bộ chi phí để hạn chế khắc phục thiệt hại cụ thể: Bà đi xin chữ ký người làm chứng xác định việc bà Q hại bà là sự thật 02 ngày tiền công lao động tự do hiện tại địa phương bà đang làm là 250.000đồng/1 ngày công, bằng 500.000 đồng; xăng xe đi lại trong việc xác minh chứng cứ trong việc bà quyết xâm hại bà 50.000đồng. Tổng số tiền đề nghị bà Q bồi thường cho bà là 12.650.000đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).

Buộc bà Q công khai xin lỗi bà trước địa phương nơi bà đang cư trú. Bị đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày: Sự việc xảy ra ngày 17/4/2017 tại đám tang của ông Trương Tiến L có vợ là bà Nguyễn Thị Đ (là chị gái ruột của bà) ở thôn B, xã Q. Sau khi bà L đến thăm viếng đám tang ông L, khi bà L làm lễ xong ra đến thềm đang đeo dép bà có ra và nói với bà L là “bà L bà về đi bà Đ không cho bà đến nhà”, lúc đó là bà đang đứng cách bàn L khoảng hơn một mét, bà L nghe tiếng bà nói bà quay lại dơ cánh tay phải lên và nói “mày thì một vả, bây giờ con chó này mày như một con quỷ” và do bà bị nói lại bất ngờ như vậy thì bà cũng nói luôn là “mày mới là con chó mày mới là con quỷ, mày cút ra khỏi nhà bà Đ ngay”. Sau đó cả bà L và mẹ đẻ bà L đuổi theo bà và chửi bà, trong khi đó anh Hà Trọng G cũng đi theo bà ra phía nhà bếp và nói bà không nói gì nữa. Lúc đó vì công việc của anh rể bà nên bà phải đi mua hương để 11h là đưa anh rể bà đi hỏa táng. Sau khi sự việc xảy ra bà đã nhận thấy mình có lỗi và Ủy ban nhân dân xã Q giải quyết vụ việc trên, bà đã chấp nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Ủy ban nhân dân xã Q. Sau khi có quyết định xử phạt cảnh cáo của Ủy ban nhân dân xã Q thì bà không có khiếu nại gì đối với quyết định đó và đến giờ bà đã chấp hành xong. Việc bà L yêu cầu bồi thường tổng số tiền 12.650.000đ và yêu cầu công khai xin lỗi trước địa phương, bà không nhất trí. Vì hành vi của bà như vậy chưa đến mức phải bồi thường và chưa đến mức phải công khai xin lỗi tại địa phương. Bà cũng nhận thấy cách cư xử của bà tại đám tang của ông L đối với bà L là sai và bà đã xin lỗi bà L tại các buổi hòa giải của Tòa án.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T trình bày: Sự việc xảy ra vào khoảng 10 giờ 00 ngày 17/4/2017, tại đám tang ông Trương Tiến L ở thôn B, xã Q. Ông thấy bà L vào làm lễ ông L xong và đi lui ra ngoài cửa bước xuống bậc đeo dép thì ông thấy bà Q đi từ bếp đến chỗ bà L. Khi đó bà L đứng dậy quay lại, tay bà L có va vào bà Q thì bà Q chửi bà L “Tiên sư con này, mày đến đây làm gì? Mày cút khỏi nhà tao”. Sau đó bà Q du đẩy bà L, bà L không phản ứng gì và bảo “Ơ con này, sao mày đuổi tao”. Lúc đó ông thấy anh Hà Trọng G là trưởng công an xã Q đứng ra can ngăn, đưa bà L ra chỗ khác, còn bà Q vẫn chửi bà L, sau đó mọi người đưa bà Q vào bếp.

Anh Hà Trọng G trình bày: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 tại đám tang ông Trương Tiến L ở thôn B, xã Q, anh có tới dự đám tang nhà ông L (là chú ruột anh). Khi anh đang thu dọn bàn để chuẩn bị cho hội cựu chiến binh của xã làm thủ tục cho ông L thì anh thấy ồn ào phía trước cửa chính nơi đang chuẩn bị làm thủ tục đưa ông L đi hỏa táng. Anh nhìn thấy bà L đang lui ra để đeo dép và quay người lại va tay vào người bà Q. Sau đó hai bên chửi nhau và bà Q đuổi bà L ra khỏi đám tang. Ngay lúc đó anh vào can ngăn hai người và đẩy bà Q ra phía ngoài đồng thời cũng đẩy bà H (là mẹ bà L) về phía bà L để mẹ bà L và bà L không chửi bà Q nữa. Khi bà L khua tay vào bà Q thì bà Q và bà L chửi tục nhau, còn ai là người chửi trước thì anh không nắm được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch thụ lý vụ án dân sự về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại theo ngoài đồng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thu lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thông báo thụ lý vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi khai mạc phiên toà đến trước khi nghị án, đảm bảo vô tư, khách quan, đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 34, khoản 1 Điều 584, 585, 586, 592 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Buộc bà Nguyễn Thị Q phải công khai xin lỗi bà Nguyễn Thị L tại địa phương.

Buộc bà Nguyễn Thị Q phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà Nguyễn Thị L một khoản tiền phù hợp theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường toàn bộ chi phí để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét thấy:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm hại của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Q. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 6 Điều 26, Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về pháp luật áp dụng giải quyết vụ án: Sự việc xảy ra ngày 17/4/2017 tại đám tang ông Trương Tiến L tại thôn B, xã Q. Sau đó bà Nguyễn Thị L có yêu cầu bà Nguyễn Thị Q phải bồi thường về danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm hại. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015.

[3]. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận rằng khoảng 10 giờ 30 phút tại đám tang ông Trương Tiến L ở thôn B, xã Q, huyện L, bà Nguyễn Thị Q có hành vi chửi tục, đuổi bà Nguyễn Thị L ra khỏi đám tang. Tuy nhiên bà Q cho rằng bà L là người chửi bà Q trước, bà L cho rằng bà Q là người chửi bà L trước. Theo lời khai của người làm chứng có mặt tại đám tang, anh Hà Trọng G khai: Có việc bà Q chửi tục, đuổi bà L ra khỏi đám tang nhưng không biết ai là người chửi trước; ông Nguyễn Văn T là người có mặt tại đám tang khai: Khi bà L vào làm lễ ông Trương Tiến L xong và đi lui ra ngoài cửa bước xuống bậc đeo dép thì ông thấy bà Q đi từ bếp đến chỗ bà L. Khi đó bà L đứng dậy quay lại, tay bà L có va vào bà Qthì bà Q chửi tục, đuổi bà L ra khỏi đám tang. Sau khi sự việc xảy ra Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Q bằng hình thức cảnh cáo vì đã có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác. Bà Q đã chấp hành xong Quyết định và không có ý kiến gì, bà cũng xác nhận việc bà cư xử như vậy đối với bà L tại đám tang là sai. Như vậy có việc bà Q là người chửi tục, đuổi bà Loan ra khỏi đám tang ông Trương Tiến L ở thôn B, xã Q trước. Bà Q cho rằng việc chửi bà L như vậy là chưa đến mức xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Hội đồng xét xử thấy việc bà Q chửi tục, đuổi bà Loan tại đam tang là nơi đông người và bà L là một đảng viên, trạm trưởng trạm y tế xã là đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà L và gây mất trật tự tại nơi công cộng. Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật dân sự, thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà Q phải công khai xin lỗi L tại địa phương.

Đối với yêu cầu của bà L về việc yêu cầu bồi thường chi phí để hạn chế khắc phục thiệt hại bao gồm: Chi phí đi xin chữ ký người làm chứng ông Nguyễn Văn T là 02 ngày công x 250.000đồng/ngày = 500.000 đồng; xăng xe đi lại trong việc xác minh chứng cứ là 50.000 đồng, tổng là 550.000 đồng. Đối với yêu cầu này, có việc bà L đến xin chữ ký của ông Nguyễn Văn T là người làm chứng một lần, theo bà L thì từ nhà bà đến nhà ông T khoảng 02km, bà đi xin chữ ký của ông T vào ngoài giờ hành chính và trong thời gian đó bà vẫn được hưởng lương của Nhà nước (vì bà L đang công tác tại trạm y tế xã Q). Theo xác minh tại địa phương thì khoảng cách từ nhà bà L đến nhà ông Nguyễn Văn T khoảng 1,5km. Như vậy chi phí, công sức trong việc này là không đáng kể nên không cần thiết buộc bà Q phải bồi thường khoản chi phí này cho bà L.

Xét yêu cầu bồi thường của nguyên đơn về việc yêu cầu đòi bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại 12.100.000 đồng. Theo khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự quy định: “2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Bà L có cung cấp cho Tòa án phiếu siêu âm, nội soi của bà nhưng kết quả phiếu siêu âm, nội soi không liên quan đến việc bà bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín. Bà L cho rằng sau sự việc xảy ra bà hay bị cơn đau thắt ngực nhưng bà không có tài liệu gì chứng minh. Việc bà Q chửi tục, đuổi bà L tại đám tang là nơi đông người có thể dẫn đến sự hiểu lầm của bà con hàng xóm nên cần buộc bà Q phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà L tương ứng với 01 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định là: 01 x 1.300.000 đồng = 1.300.000 đồng.

[5]. Về án phí: Bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000đ. Bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 34, khoản 1 Điều 584, 585, 586, 592, 357 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1, 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Nguyễn Thị Q phải công khai xin lỗi bà Nguyễn Thị L tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung xin lỗi là: “Ngày 17/4/2017, tại đám tang ông Trương Tiến L tôi Nguyễn Thị Q đã có những lời nói, hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà Nguyễn Thị L, nay tôi Nguyễn Thị Q xin lỗi bà Nguyễn Thị L”.

Buộc bà Nguyễn Thị Q phải bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho bà Nguyễn Thị L là 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày ngươi được yêu câu thi hanh an có đơn y êu cầu thi hành án số tiền nêu trên ngươi phai thi hanh an không trả được , thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Q bồi thường chi phí để hạn chế khắc phục thiệt hại là 550.000đ.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị L không phải chụi án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


136
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về