Bản án 04/2018/DS-ST ngày 30/03/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 04/2018/DS-ST NGÀY 30/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Vào ngày 30 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 47/2017/DSST ngày 18 tháng 12 năm 2017, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 04/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 2 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/QĐST – DS ngày 14 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Vũ Thị Th ( vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, TT. KK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị T ( có mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố A, TT. KK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk

Đồng bị đơn: Ông Y BL Byă; bà H’DH Niê; chị H’ BR Niê và anh Y L Byă (đồng vắng mặt)

Đồng trú tại : Buôn CP, xã DK, huyện KB, tỉnh Đăk Lăk

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Ông Y Ng Byă (vắng mặt) Địa chỉ: Buôn CP, xã DK, huyện KB, tỉnh Đăk Lăk

Người làm chứng : H Ũn Byă ( vắng mặt) Địa chỉ: Buôn BL, xã CP, huyện KB, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại Tòa án, nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 06/5/2017, bà Vũ Thị Th cho ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê vay số tiền là 373.575.000đ ( ba trăm bảy mươi ba triệu năm trăm bảy lăm ngàn đồng); ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê hẹn đến ngày 31/7/2017 sẽ trả đủ số tiền đã vay. Khi vay thì ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H’BR Niê có đưa cho bà Vũ Thị Th ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin, đó là:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 298 466 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 224 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 225 cấp cho ông Y Ng Byă và bà H’ BR Niê

Sau nhiều lần hỏi nợ thì ngày 30/11/2017, bên vay cam kết đến ngày 10/12/2017 sẽ hoàn thành việc trả cho bà Vũ Thị Th số tiền đã vay. Khi Tòa án mời lên làm việc thì chị H’BR Niê hẹn đến ngày 25/12/2017 sẽ trả hết số tiền đã vay. Tuy nhiên, cho đến nay, ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H’ BR Niê vẫn không có thiện chí trả số tiền đã vay cho bà Vũ Thị Th là 373.575.000đ ( ba trăm bảy lăm triệu năm trăm bảy lăm ngàn đồng).

Do vậy,  bà Vũ Thị Th đề nghị Tòa án giải quyết buộc bên vay tiền là ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H’ BR Niê trả  số tiền đã vay là 373.575.000đ và yêu cầu tính lãi suất 1%/tháng kể từ ngày 07/7/2017 tạm tính đến ngày xét xử là ngày 30/3/2018 là 373.575.000đ x 1%/ tháng x 8 tháng = 29.886.000đ. Tổng cả gốc và lãi là : 403.461.000đ.

Bị đơn, chị H’BR Niê trình bày trong bản tự khai ngày 18/12/2017: Chị H’BR Niê thừa nhận vào ngày 06/5/2017, chị có vay của bà Vũ Thị Th số tiền là 373.575.000đ để đáo hạn ngân hàng, thời trả nợ là ngày 31/7/2017 sẽ trả hết số nợ trên nhưng do hoàn cảnh khó khăn, chị vẫn chưa trả được số nợ trên cho bà Vũ Thị Th và chị H’BR Niê có nguyện vọng đến ngày 25/12/2017 sẽ trả toàn bộ số tiền nợ trên cho bà Vũ Thị Th.

Bị đơn ông Y BL Byă trình bày trong bản tự khai ngày 02/01/2018: Tôi có ký vào giấy vay tiền ngày 06/5/2017 của bà Vũ Thị Th cùng vớí vợ tôi là bà H’DH Niê và các con H’BR Niê và Y L Niê. Tuy nhiên, việc giao dịch vay mượn là do con gái tôi là H’BR Niê với bà Vũ Thị Th chứ gia đình tôi không ai hay biết gì, H’BR mượn tiền để làm gì, mượn bao nhiêu, lãi suất như thế nào chúng tôi không hề biết. Việc H’BR lấy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng tôi gồm:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 298 466 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 224 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê đưa cho bà Vũ Thị Th giữ để làm tin, gia đình tôi không biết mà do H’BR tự lấy mang đưa.

Nay bà Vũ Thị Th yêu cầu tôi cùng có trách nhiệm trả số tiền 373.575.000đ và tiền lãi phát sinh, tôi không vay nên không chịu trách nhiệm trả nợ, vả lại gia đình tôi cũng nghèo khó nên không có khả năng trả số tiền trên cho bà Vũ Thị Th. Còn việc H’BR hẹn trả nợ cho bà Th như thế nào tôi không biết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2018, anh Y L Byă trình bày: Vào ngày 06/5/2017, tôi có đi cùng chị gái tôi là H’BR Niê đến nhà bà Vũ Thị Th để vay tiền và tôi cũng đã ký vào giấy vay tiền ngày 06/5/2017. Sau khi vay tiền, tôi không biết chị gái tôi dùng tiền vay đó vào việc gì nên giờ tôi cũng không có ý kiến gì về việc bà Vũ Thị Th đòi nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2018, bà H’DH Niê trình bày: Việc con gái tôi là H’BR Niê vay tiền của bà Vũ Thị Th tôi không hay biết gì. Tuy nhiên đến hạn mà con gái tôi không trả cho bà Vũ Thị Th nên tôi có ký giấy nhận nợ và đưa cho bà Th giữ ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 298 466 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 224 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê;

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 225 cấp cho ông Y Ng Byă và bà H’ BR Niê.

Hiện nay bà Vũ Thị Th đòi nợ tôi đề nghị bà Th đưa lại cho tôi ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để tôi đi vay tiền về trả nợ cho bà Th.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2018, anh Y Ng Byă trình bày: Tôi là chồng của chị H’BR Niê, việc H’BR Niê vay tiền của bà Th làm gì tôi không biết vì gia đình tôi không có nhu cầu vay tiền. Vì vậy, tôi không chịu trách nhiệm trả số nợ này cho bà Vũ Thị Th.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bà Vũ Thị Th vẫn giữa nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và ch H BR Niê có trách nhiệm trả số nợ gốc là 373.575.000đ, tiền lãi phát sinh là 29.886.000đ. Tổng cả gốc và lãi là: 403.461.000đ Ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê vắng mặt tại phiên tòa .

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần HĐXX không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Th: Buộc ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê trả số nợ gốc là 373.575.000đ, tiền lãi phát sinh là 29.886.000đ. Tổng cả gốc và lãi là : 403.461.000đ cho bà Vũ Thị Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1]Về tố tụng: Mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê không lên Tòa án để làm việc. Việc ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê không đến Tòa án làm việc là tự từ bỏ quyền được tham gia tố tụng tại Tòa án của chính mình và đây cũng là lần thứ hai, phiên tòa được mở nhưng ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê vắng mặt mà không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[ 2]Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với số tiền nợ và thời hạn thanh toán:

Vào ngày 06/5/2017, bà Vũ Thị Th cho ông ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê vay số tiền là 373.575.000đồng, thời gian trả nợ là ngày 31/7/2017.

Tại Tòa án thì chị H’BR Niê hẹn chậm nhất đến ngày 25/12/2017 sẽ trả hết số tiền đã vay cho bà Vũ Thị Th. Tuy nhiên, cho đến nay, ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê chưa trả cho bà Vũ Thị Th số tiền đã vay. Như vậy, ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê đã nhiều lần vi phạm cam kết trả nợ. Việc bà Vũ Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê trả số tiền đã vay là 373.575.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[2.2] Đối với tiền lãi phát sinh: Khi vay, bà Vũ Thị Th với ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê không thỏa thuận lãi suất. Như vậy, đây là khoản vay không có lãi.

Tuy nhiên, tại Tòa án , bà Vũ Thị Th yêu cầu ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê trả lãi suất phát sinh kể từ ngày quá hạn từ ngày 01/8/2017) tạm tính đến ngày 30/3/2018 với lãi suất 1%/tháng là: 373.575.000đ x 1%/ tháng x 8tháng= 29.886.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên cũng cần chấp nhận.Việc bà Vũ Thị Th không yêu cầu anh Y Ng Byă ( chồng chị H’BR Niê) có nghĩa vụ trả nợ cùng với ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H’BR Niê là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tuy nhiên, gia đình ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ( xã DK, huyện KB) nên được miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án .

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định vủa pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự ;

- Điều 463; Điều 466; Điều 468 ; Điều 470 Bộ luật Dân sự ;

- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Th.

Buộc ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H’BR Niê có trách nhiệm trả cho bà Vũ Thị Th số tiền nợ gốc là 373.575.000đ và lãi phát sinh là 29.886.000đ. Tổng cộng là 403.461.000đ ( bốn trăm lẻ ba triệu bốn trăm sáu mốt ngàn đồng). Ngay sau khi ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê trả hết số tiền 403.461.000đ ( bốn trăm lẻ ba triệu bốn trăm sáu mốt ngàn đồng) cho bà Vũ Thị Th  thì bà Vũ Thị Th phải trả lại cho ông Y BL Byă, bà H’DH Niê và chị H’ BR Niê ba giấy chứng nhận quyên sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 298 466 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 224 cấp cho ông Y BL Byă và bà H’ DH Niê; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 597 225 cấp cho ông Y Ng Byă và bà H’ BR Niê.

Trường hợp bản án này có hiệu lực pháp luật mà ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê không tự nguyện thực hiện việc trả nợ cho bà Vũ Thị Th số tiền là 403.461.000đ thì bà Vũ Thị Th được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện KB, tỉnh Đăk Lăk buộc chị H’BR Niê phải có nghĩa vụ trả nợ với số tiền là 403.461.000đ ( bốn trăm lẻ ba triệu bốn trăm sáu mốt ngàn đồng). Trường hợp tài sản của chị H’BR Niê không đủ hoặc không có để trả nợ cho bà Vũ Thị Th thì ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă phải chịu trách nhiệm trả cho bà Vũ Thị Th số tiền còn nợ lại.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho ông Y BL Byă, bà H’DH Niê, anh Y L Byă và chị H BR Niê.

Trả lại cho bà Vũ Thị Th 9.000.000đ (chín triệu đồng) tạm ứng án phí Dân sự đã nộp theo biên lai số 0001768 ngày 15/12/2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện KB, tỉnh Đăk Lăk.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Các đồng nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Các đồng bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2018/DS-ST ngày 30/03/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:04/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Bông - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về