Bản án 04/2018/HS-ST ngày 15/01/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 04/2018/HS-ST NGÀY 15/01/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 15 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2017/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Công D, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1994 tại xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện TC, tỉnh NA; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn Công M và bà Bùi Thị H;Vợ,con: chưa có;Anh chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 02; tiền án: Không,tiền sự: Không;nhân thân:Ngày 30/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “ Cướp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt ngày 07/5/2014; bị bắt, tạm giữ ngày 22/10/2017, tạm giam ngày 28/10/2017. Có mặt.

2.Họ và tên: Nguyễn Công T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1990 tại xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện TC, tỉnh NA; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn Công M và bà Ngũ Thị H; có vợ là Lê Thị M và 02  người, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Bị cáo là con duy nhất trong gi đình; tiền án: Không,tiền sự: Không;nhân thân:Ngày 13/3/2015 bị Tòa án nhân dânhuyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2016; bị bắt, tạm giữ ngày22/10/2017, tạm giam ngày 28/10/2017. Có mặt.

3.Họ và tên:Trần Đình Đ, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1992 tại xã TT, huyện TC, tỉnh NA. Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện TC, tỉnh NA; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12;dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam;con ông Trần Đình H và bà Lê Thị T;Vợ, con: chưa có; Anh chị, em ruột có 03người, bị cáo là con thứ 03; tiền án: Không,tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày22/10/2017,tạm giam ngày 28/10/2017. Có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quang L, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Xóm Y, xã TH, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Xóm X, xã TH, huyện TC, tỉnh NA. Văng mặt.(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Xóm 1x, xã TH, huyện TC, tỉnh NA. Văng mặt.(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ ánđược tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ, ngày 21/10/2017 Nguyễn Công D, NguyễnCông T,Trần Đình Đ cùng với Trần Đình T, Trần Đình S, Trần Văn Q, Trần Văn P rủ nhau đi uống rượu tại quán Thành L thuộc Xóm X, xã TH, huyện TC, tỉnh NA. Tronglúc cả nhóm của Nguyễn Công D đang ăn uống thì có anh Nguyễn Quang L, ĐậuQuốc T và Võ Đình N cũng vào quán TL ăn uống. Sau khi ăn xong thì Nguyễn Công D và Trần Đình Đ ra thanh toán tiền nhưng xin nợ chủ quán, Nguyễn Công T gọi thêm bia để uống. Nguyễn Văn L thấy vậy nên nói “ Uống nhiều rồi say thì đừng uống nữa” nghe vậy T đứng dậy nói lại “ Anh không phải lo, anh hại bọn tui không có tiềnà?”.Thấy T và L to tiếng nên Nguyễn Công D đi lại dùng tay đấm một cái vào mặtNguyễn Văn L làm cho L bị ngã xuống đất, Đ nhảy vào đấm nhiều cái vào mặt L, lúc này Nguyễn Công T đứng dậy cầm 01 cốc thủy tinh ném vào đầu L gây thương tích. Bị đánh Nguyễn Văn L bỏ chạy ra ngoài thì bị Nguyễn Công D và Trần Đình Đ mỗingười cầm một chiếc ghế gỗ, T cầm 01 cốc thủy tinh đuổi theo. Đến gần khu vực cửa quán thì Nguyễn Công D dùng ghế gỗ đánh trúng đầu anh L, Đ giơ ghế lên đánh tiếp thì bị anh Trần Đình S vào căn ngăn nên Đ bỏ ghế xuống đất và sau đó được mọingười có mặt trong quán can ngăn nên Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần ĐìnhĐ không đánh anh Nguyễn Văn L nữa và bỏ ra về. Sau khi bị đánh anh Nguyễn Văn Lđược đưa đến sơ cứu tại Trạm y tế xã TH, huyện TC và sau đó chuyển đến Bệnh việnđa khoa tỉnh Nghệ An điều trị từ ngày 21/10/2017 đến ngày 30/10/2017 thì ra viện.

Ngày 22/10/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ.

Ngày 23/10/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật đối với anh Nguyễn Văn L.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 273/TTPY ngày 25/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn L như sau:

1.Vết thương nằm dọc trán trái, vết thương đỉnh trái và vết thương vùng chẩm trái. Đụng dập tụ máu trong khoang dưới màng cứng vùng thái dương phải và đỉnh chẩm trái. Cẳng chân phải hiện tại không để lại vết tích.

2. Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 25% (Haimươi lăm phần trăm)

Ý kiến của bị hại anh Nguyễn Quang L: Khoảng 17 giờ, ngày 21/10/2017 anh đi vào quán TL thuộc Xóm X, xã TH, huyện TC thì thấy Nguyễn Công D, Nguyễn Công T, Trần Đình Đ cùng một số người đang uống rượu tại quán .Sau khi ăn xong thì Nguyễn Công D và Trần Đình Đ ra thanh toán tiền nhưng xin nợ chủ quán, Nguyễn Công T gọi thêm bia để uống, thấy vậy nên anh nói “ Uống nhiều rồi say thì đừng uống nữa” nghe vậy T đứng dậy nói lại “Anh không phải lo, anh hại bọn tui không có tiền à?”. Thấy anh và T nói nhau thì Nguyễn Công D đi lại dùng tay đấm một cái vào mặt làm anh bị ngã xuống đất, Đ nhảy vào đấm nhiều cái vào mặt anh, Nguyễn Công T đứng dậy cầm 01 cốc thủy tinh ném vào đầu anh gây thương tích. Bị đánh nên anh bỏ chạy ra ngoài thì bị Nguyễn Công D và Trần Đình Đ mỗi người cầm một chiếc ghế gỗ, T cầm 01 cốc thủy tinh đuổi theo đến gần khu vực cửa quán thì Nguyễn Công D dùng ghế gỗ đánh trúng đầu. Sau khi bị đánh thì được đưa đến sơ cứu tại Trạm y tế xã TH, huyện TC và sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An điều trị từ ngày21/10/2017 đến ngày 30/10/2017 thì ra viện. Sau khi bị đánh thì các bị cáo đã bồithường đầy đủ cho anh số tiền 27.590.000đồng, anh không yêu cầu các bị cáo bồithường gì thêm.

Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án trả lại cho vợ chồng anh 01 chiếc ghế băng mà các bị cáo dùng để đánh anh Nguyễn Văn L.

Bản cáo trạng số 02 /VKS -HS ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ về tội "Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích”.  Áp  dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, p khoản 1,2  Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Nguyễn Công D mức án từ 27 đến 30 tháng tù .

Xử phạt: Nguyễn Công T mức án từ 25 đến 27 tháng tù .

Xử phạt: Trần Đình Đ mức án từ 24 đến 27 tháng tù .

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thỏa thuận việc bồi thường, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng  Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Trả lại cho vợ chồng anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T 01 (Một) chiếc ghế băng; Tịch thu tiêu hủy một số mảnh vỡ thủy tinh.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị hại là anh Nguyễn Quang L không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi khởi tố, điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có khiếu nại về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,người làm chứng, vật chứng thu được,phù hợp với bản kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.Có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/10/2017 tại xóm X, xã TH, huyện TC, tỉnh NA, do có mâu thuẫn trong lúc ngồi uống rượu nên Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ đã có hành vi dùng tay đấm, dùng cốc thủy tinh và ghế gỗ đánh vào đầu anh Nguyễn Quang L gây thương tích là 25% (Hai mươi lăm phần trăm) Các bị cáo dùng cốc thủy tinh,ghế gỗ gây thương tích cho anh Nguyễn Quang L là 25% thuộc trường hợp dùng hungkhí nguy hiểm, đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích" tội phạm và hình phạt đượcquy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại thời điểm Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì Bộ luật hình sự năm 2015 đã cóhiệu lực pháp luật, về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ là 02 đến 06 năm tù là thấp hơn tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 2 đến 07 năm tù. Đây là trường hợp Điều luật quy định một khung hình phạt nhẹ hơn có lợi cho người phạm tội do đó Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử các bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sựnăm 2015 như đề nghị của địa diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Xét vai trò của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Nguyễn Công D là người thực hành tích cực nhất, D là người đầu tiên đã dùng tay đấm và dùng ghế gỗ đánh trực tiếp vào đầu Nguyễn Văn L gây thương tích do đó D phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo T và Đ. Bị cáo là người có nhân thân xấu ngày 30/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt18 tháng tù về tội “ Cướp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt ngày 07/5/2014 nhưngkhông lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội do đó phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bịcáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1,2Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 do đó Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹmột phần hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Công T là người thực hành tích cực do đó T cũng phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình gây ra, nhưng thấp hơn bị cáo D. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 13/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt ngày 13/5/2016 nhưng không lấy đó làm bài học nay lại tiếp tục phạm tội do đó phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian.Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bố bị cáo là người có công với nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1,2  Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 do đó Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vai trò trong vụ án là thứ yếu do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo ở dưới khung hình phạt thể hiện sự khoản hồng của pháp luật.

- Bị cáo Trần Đình Đ là người giúp sức tích cực, bản thân Đ cũng dùng tay đấm anh L và dùng ghế gỗ đánh anh L nhưng được mọi người can ngăn nên không trúng, do đó Đ cũng phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình gây ra, nhưng thấp hơn bị cáo D và T. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáođược hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đây là cáctình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, p khoản 1,2  Điều46 của Bộ luật hình sự năm 1999 do đó Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vai trò trong vụán là thứ yếu do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 đểxét xử bị cáo ở dưới khung hình phạt thể hiện sự khoản hồng của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 27.590.000 (Hai mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi ngàn) đồng.Tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Quang L không yêu cầu các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 ghế gỗ mà bị cáo dùng để phạm tội thuộc quyền sở hữu của  vợ chồng anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T. Các bị cáo dùng ghế để đánh anh L thì anh L, chị T không biết nên Hội đồng xét xử trả lại chiếc ghế cho chủ sở hữu; đối với một số mảnh vỡ thủy tinh không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là đúng với quy định tại Điều 106 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, p khoản 1,2  Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Công D.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, p khoản 1,2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Nguyễn Công T và Trần Đình Đ.

Căn cứ  vào khoản 2 Điều 136; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017của Quốc hội; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T và Trần Đình Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2.Xử phạt:

-  Nguyễn  Công  D,  25  (Hai  mươi  lăm)  tháng  tù.Thời  hạn  tù  tính  từ  ngày22/10/2017.

- Nguyễn Công T, 18 (Mười tám tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2017.

- Trần Đình Đ, 16 (Mười sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2017.

3. Xử lý vật chứng:Trả lại cho vợ chồng anh Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị T01(Một) chiếc ghế băng; Tịch thu tiêu hủy một số mảnh vỡ thủy tinh.(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/12/2017 giữa Chi cục thi hành án dân sựhuyện Thanh Chương và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Chương, tỉnhNghệ An)

4.Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Công T,Trần Đình Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bịcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm iết


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về