Bản án 04/2018/HSST ngày 16/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 04/2018/HSST NGÀY 16/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (tên gọi khác: T), sinh năm 1985 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Khu phố A, phường H, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 0/12; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Dương Thị R; gia đình bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ 4.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 01 tiền án; ngày 12-12-2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày xét xử.

(Bị cáo Nguyễn Văn H có mặt tại phiên toà).

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 (vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Ông Bùi Ngọc S, sinh năm 1971 (vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07-9-2018, bị cáo Nguyễn Văn H đi ngang nhà bà Nguyễn Thị T thuộc xã Bình Trung, huyện Châu Đức và thấy không có người nên bị cáo đi vào phòng ngủ thì thấy con bà T đang ngủ, trên bàn có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu trắng, loại 32GB nên bị cáo lấy bỏ vào túi quần đi ra ngoài thì nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe Sirius, màu Đỏ-đen biển số: 72F1-087.90 dựng ở trong nhà, trên xe có cắm chìa khóa nên bị cáo dắt xe ra tẩu thoát. Khi trộm được tài sản, bị cáo đã tháo biển số xe vứt bỏ xuống suối và sử dụng xe làm phương tiện đi lại. Ngày 09-9-2018, bị cáo đem chiếc điện thoại di động Iphone 5S trộm được đem bán cho một tiệm điện thoại ở thành phố Bà Rịa (không nhớ rõ địa chỉ) với giá 400.000đồng. Ngày 18-9-2018, bị cáo sử dụng xe mô tô: 72F1-087.90 đi trộm gà ở xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu thì bị người dân phát hiện, bắt giữ báo Công an xã Châu Pha về sự việc. Công an xã Châu Pha đã làm việc và phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo nên đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Châu Đức điều tra xử lý theo quy định pháp luật. Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản bà T đã làm đơn trình báo sự việc lên Cơ quan Công an. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 146/HĐĐG ngày 21-9-2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Đức kết luận: Tài sản không có hiện vật là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu trắng, loại 32Gb trị giá: 1.890.000đồng; tài sản có hiện vật là 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ - đen biển số 72F1-087.90 trị giá 6.181.200đồng, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp tại thời điểm ngày 07-9-2018 là 8.071.200đồng (Bút lục số 16).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường trị giá 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu trắng, loại 32Gb cho Bà Nguyễn Thị T là 1.890.000đồng.

Đi với xe mô tô biển số 72F1-087.90, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Đức đã trả lại cho ông Bùi Ngọc S. Hiện bà T và ông S không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và đã làm đơn bãi nại cho bị cáo (Bút lục số 84).

Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Sirius, màu: Đỏ-đen biển số: 72F1-087.90 là tài sản hợp pháp của ông Bùi Ngọc S nên ngày 10-10-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại chiếc xe trên cho ông S (Bút lục số 12).

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu trắng, loại 32Gb. Sau khi trộm được bị cáo đã đem bán tại 01 tiệm điện thoại tại thành phố Bà Rịa (không rõ địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 21-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức xin rút một phần quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” với lý do bản án năm 2010 đã được xóa án tích còn bản án năm 2013 và năm 2015 bị cáo bị áp dụng tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm nhưng do bản án năm 2017 bị cáo phạm tội trộm cắp không đủ định lượng nên đã áp dụng tái phạm và tái phạm nguy hiểm của các lần phạm tội trước đó để xét xử bị cáo. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo chỉ bị coi là tái phạm nên bị cáo chỉ bị truy tố theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức xin rút quyết định truy tố bị cáo từ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự xuống truy tố khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức truy tố, không tranh tụng tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07-9-2018, tại nhà Bà Nguyễn Thị T thuộc thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển số 72F1- 087.90 trị giá 6.181.200đồng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu trắng, loại 32Gb trị giá 1.890.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.071.200đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Bị cáo Nguyễn Văn H là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết hành vi trộm cắp tài sản là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người thân mà còn làm mất trật tự trị an địa phương. Sự cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và tài sản là xe mô tô biển số 72F1-087.90 đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án; ngày 12-12-2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt vào ngày 28-4-2018 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 06-01-2010, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 10-4-2013, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 03-7-2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” điều đó cho thấy bị cáo không ăn năn hối cải nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Đối với bản án năm 2010 thì bị cáo đã được xóa án tích còn bản án năm 2013 và năm 2015 bị cáo bị áp dụng tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm nhưng theo bản án ngày 12-12-2017 bị cáo phạm tội không đủ định lượng nên đã lấy các lần phạm tội của 02 bản án này để xét xử bị cáo nên các lần phạm tội trước đó không được coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát xin rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự xuống truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Như vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T đã nhận đủ số tiền bị cáo bồi thường giá trị 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5s là 1.890.000đồng và đã nhận lại xe mô tô biển số 72F1-087.90 nên không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: Sirius, màu: Đỏ-đen biển số: 72F1-087.90 là tài sản của vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Ngọc S nên ngày 10-10-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại chiếc xe trên cho ông S và bà T là phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu trắng, loại 32Gb. Sau khi trộm được bị cáo đã đem bán tại 01 tiệm điện thoại tại thành phố Bà Rịa (không rõ địa chỉ) và biển số xe mô tô 72F1-087.90 hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức không thu hồi được.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16-01-2018). Bị cáo có quyền kháng cáo. Đối với bị hại vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


54
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2018/HSST ngày 16/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:04/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về