Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 14/02/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 04/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/02/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 14 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2018/TLST-HNGĐ ngày 17/12/2018 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXX-ST ngày 25/01/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Bích Ng, sinh năm 1992.

Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu 69, thị trấn M, huyện C, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: AnhPhạm Tiến P, sinh năm 1986.

Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Chị Ng, anh P vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn ngày 10/7/2018, bản tự khai ngày 17/12/2018 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 21/01/2019, nguyên đơn là chị Lưu Thị Bích Ng trình bày: Chị và anh Phạm Tiến P kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 10/9/2013. Sau khi kết hôn chị và anh P chung sống hạnh phúc được một năm thì mâu thuẫn do anh P có quan hệ với người phụ nữ khác. Từ năm 2015 cho đến nay chị và anh P sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Ng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị và anh P có một con chung là Phạm Minh A, sinh ngày 14/11/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Minh A, chị Ng không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, công nợ: Chị và anh P không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 05/01/2019 bị đơn là anhPhạm Tiến P trình bày: Anh đã nhận được Thông báo của Tòa án về việc chị Ng có đơn xin ly hôn anh nhưng do sức khỏe yếu nên anh không đến Tòa án để làm việc được, anh xin được vắng mặt trong các buổi làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Quan điểm của anh P cũng đồng ý ly hôn với chịNg; về con chung: Anh P nhất trí giao con chung Phạm Minh A cho chịNg trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, công nợ: Anh và chị Ng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2019, bà Vũ Thị Ng là mẹ đẻ anh Phạm Tiến P trình bày: Anh P và chị Ng tự nguyện tìm hiểu và kết hôn ngày 10/9/2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn chị Ng ở tại gia đình bà để sinh con, còn anh P đi làm ở tỉnh Điện Biên.

Do xa cách nên vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Gia đình bà có biết việc chị Ng có đơn xin ly hôn anh P và đã thông báo cho anh P biết; Về con chung: Chị Ng và anh P có một con chung là Phạm Minh A, sinh năm 2014; Về tài sản chung, công nợ: ChịNg và anh P không có tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, bị đơn không đến Tòa án làm việc nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lưu Thị Bích Ng được ly hôn anhPhạm Tiến P; về con chung: Giao con chung Phạm Minh A, sinh ngày 14/11/2014 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; về tài sản chung: Không giải quyết; về án phí: Chị Lưu Thị Bích Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Tiến P có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” giữa chị Lưu Thị Bích Ng và anh Phạm Tiến P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Chị Ng, anh P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Bích Ng và anh Phạm Tiến P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình. Tại thời điểm kết hôn Chị Ng và anh P đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị Ng và anh P chung sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu thuẫn và từ năm 2015 cho đến nay chị Ng và P không chung sống cùng nhau, quan hệ vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, cả chịNg và anh P đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy là hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, giải quyết cho chị Ng được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Lưu Thị Bích Ng và anhPhạm Tiến P có một con chung là Phạm Minh A, sinh ngày 14/11/2014. Con chung hiện tại đang sống cùng chị Ng. Chị Ng có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Phạm Minh A và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Anh P cũng đồng ý để con chung cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng và anh P, giao con chung Phạm Minh A cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Ng không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nên việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ: Không có.

[2.4]. Về án phí: Chị Lưu Thị Bích Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị Bích Ng và anh Phạm Tiến P được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị Bích Ng được ly hôn với anh Phạm Tiến P.

2/ Về con chung: Giao con chung Phạm Minh A, sinh ngày 14/11/2014 cho chị Lưu Thị Bích Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Anh Phạm Tiến P có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3/ Về tài sản chung, công nợ: Không có.

4/ Về án phí: Chị Lưu Thị Bích Ng phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) chịNg đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0008908 ngày 17/12/2018.

5/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 14/02/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:04/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về