Bản án 05/2017/HSST ngày 07/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 05/2017/HSST NGÀY 07/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2017/HSST  ngày 05/10/2017, theo  Quyết  định  đưa vụ  án  ra xét  xử  số:05/2017/HSST-QĐ ngày 25/10/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A S; sinh năm 1960 tại xã MB huyện TC, tỉnh Điện Biên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản HT 3, xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Giàng A D và con bà Vừ Thị C (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Cháng Thị Đ (đã chết); Bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền sự; Tiền án: Không. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2017 cho tới nay về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 06/7/2017, tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ làm nhiệm vụ tại khu vực bản HT 3, xã N, huyện NP phát hiện trong nhà ở của Giàng A S có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác vào trong nhà ở của S để kiểm tra hành chính, qua kiểm tra tổ công tác phát hiện, thu giữ tại giường ngủ của S  có 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc (nghi là thuốc phiện) và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng 01 gói nilon màu xanh gói bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc (nghi là thuốc phiện) và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra Giàng A S khai nhận: Số ma túy bị bắt quả tang trên là thuốc phiện, S mua của người đàn ông dân tộc Mông khoảng 20 tuổi không biết tên, địa chỉ của người đó ở đâu với số tiền là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tại khu vực bản HT 3, xã N, huyện NP. Mục đích mua thuốc phiện là để sử dụng vì S là người nghiện ma túy.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 07/7/2017 của Công an huyện NPxác định số Thuốc phiện thu giữ của Giàng A S có trọng lượng là 1,6 gam (Một phẩy sáu) gam, đã lấy mẫu giám định là 0, 9 (Không phẩy chín) gam, còn lại 0,7 (Không phẩy bẩy) gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 669/GĐ-PC54, ngày 10/8/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: "Mẫu vật gửi giám định được trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A S là chất ma túy: Loại thuốc phiện".

Tại bản Cáo trạng số 65/QĐ-VKS-HS ngày 04/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Giàng A S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS.

Tại phiên toà, bị cáo Giàng A S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Giàng A S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46/Bộ luật hình sự năm 1999Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Giàng A S từ 12 tháng đến 18 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41/BLHS, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76/Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Không áp dụng án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Bị cáo Giàng A S tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Giàng A S khai nhận hành vi phạm tội của mình mua ma túy về tàng trữ để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng.

Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã N, huyện NP. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng cho cá nhân bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý không bị ai xúi giục. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.

Xét nhân thân bị cáo: Giàng A S xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng dần cho bản thân. Khi bị bắt giữ bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, kinh tế gia đình bị cáo khó khăn các con đông còn nhỏ, gia đình bị cáo sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1Điều 46 BLHS. Xong cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.

Trong hồ sơ vụ án Giàng A S còn khai nhận đã mua thuốc phiện của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ của ông ta ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định.

Xét hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 194/BLHS về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

Xét vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án còn 0,7 gam (Không phẩy bẩy) gam thuốc phiện (đã trừ mẫu giám định) và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 41/BLHS; khoản 1 và điểm a, đ khoản 2 Điều 76/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ.

Xét phần án phí: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xét miễn án phí HSST cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, HĐXX xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được miễn án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 194; Điều 33/BLHS năm 1999 và khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, xử phạt bị cáo Giàng A S 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/7/2017.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; khoản 1 và điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ 0,7 gam (Không phẩy bẩy) gam thuốc phiện (đã trừ mẫu giám định) và 01 bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 05/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ).

4. Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6

Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Giàng A S được miễn án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 07/11/2017./.


66
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về