Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 25/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 05/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/01/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 405/2017/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2017 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71a/2017/QĐXX-ST ngày 14  tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: 61/3, ấp BT, xã BC, huyện X, tỉnh B.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: 156C, ấp 2B, xã NT, thành phố BT, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 6 năm 2011tại Ủy ban nhân dân xã BC, huyện X, tỉnh B. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị mai mối ép buộc, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn chị và anh L sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2012 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân ban đầu do anh L không lo lắng cho vợ con, vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng nhiều lần hàn gắn tình cảm cùng xây dựng hạnh phúc nuôi dưỡng con cái nhưng không thành. Chị yêu cầu xin ly hôn với anh L.

Chị và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Nhã P, sinh ngày 16/02/2011, chị yêu cầu được nuôi cháu P, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp về kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải,…nhưng anh L không đến Tòa án để giải quyết nên không có lời khai.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn L. Chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T, ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng cháu P. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 13/12/2017, yêu cầu của chị phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[2]Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do (anh L không có yêu cầu phản tố) nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh L không lo cho  cuộc sống gia đình. Theo biên bản xác minh ngày 27/11/2017 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Nhơn Thanh, bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột của anh Nguyễn Văn L  cho biết giữa anh L và chị T có mâu thuân nguyên nhân do anh L có bồ bịch, bà cũng mong Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Vì vậy có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nêu chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

[4] Chị Nguyễn Thị T anh Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Nhã P, sinh ngày 16/02/2011. Xét thấy, hiện tại cháu P chưa đủ 07 tuổi, đồng thời đang được chị T nuôi dưỡng tốt nên chấp nhận yêu cầu của chị T về việc được tiếp tục nuôi cháu P.

[5] Cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, đồng thời sau khi ly hôn nếu vợ hoặc chồng khó khăn túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Tuy nhiên chị T là người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng Nhã P không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng cháu P và cấp dưỡng cho chị, xét yêu cầu của chị là tự nguyện nên ghi nhận.

[6] Chị Nguyễn Thị T cho rằng giữa chị với anh Nguyễn Văn L không có tài sản chung và nợ chung nên không phải xem xét. Đối với anh L do không có mặt tại Tòa nên phải chịu hậu quả bất Li của việc vắng mặt.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ  thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 58 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhã P, sinh ngày 16/02/2011 cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về cấp dưỡng: Ghi nhận chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Nhã P và cấp dưỡng cho chị.

4.Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T khai giữa chị và anh Nguyễn Văn L không có nên không phải xem xét.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 001489 ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (chị T đã nộp đủ án phí).

6.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


82
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 25/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:05/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về