Bản án 05/2018/HSST ngày 09/02/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 05/2018/HSST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2018/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/HSST – QĐ, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Hoàng H.

Sinh ngày 08 tháng 11 năm 1999.

Nơi sinh: Xóm 10, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú: Xóm 10, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Vũ Văn H; con bà Nguyễn Thị A; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/11/2017 đến ngày 25/11/2017, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02 ngày 25/11/2017 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy.

* Người bị hại: Chị Trần Thị Quỳnh A – sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm 16, xã G2, huyện G, tỉnh N.

* Người giám hộ: Bà Đoàn Thị N – sinh năm1961; Địa chỉ: Xóm 16, xã G2, huyện G, tỉnh N.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:

Bà Nguyễn Thị H – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Trọng P – sinh năm 1956;

Địa chỉ: Xóm 16, xã G2, huyện G, tỉnh N.

- Bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1976;

Địa chỉ: Xóm 10, xã G1, huyện G, tỉnh N.

Tại phiên tòa: Bị cáo; người bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; người giám hộ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Trọng P và bà Nguyễn Thị A có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 9/2017, qua mạng xã hội Zalo, Vũ Hoàng H kết bạn với chị Trần Thị Quỳnh A (chị A là người mắc bệnh “Chậm phát triển tâm thần, trí tuệ”). Qua nói chuyện H giới thiệu tên là K ở xã G3, thấy chị Quỳnh A là người không thật tính, ngờ nghệch nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Quỳnh A lấy tiền tiêu xài cá nhân cụ thể như sau:

- Lần thứ 01: Khoảng đầu tháng 10/2017, H nhắn tin qua Zalo cho chị Quỳnh A nói dối chị Quỳnh A là cần tiền mua xe máy và hỏi vay chị A 2.000.000 (hai triệu đồng) chị A tin H và đồng ý cho H vay. Khoảng chiều tối cùng ngày H đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2 gặp chị Quỳnh A, chị Quỳnh A đưa cho H số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 02: Cách lần thứ 01 khoảng 02 đến 03 ngày, do thấy việc lừa lấy tiền của chị Quỳnh A dễ dàng, H đã nhắn tin qua Zalo cho chị Quỳnh A hỏi vay thêm 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn đồng) nói dối chị Quỳnh A để mua xe máy, chị A tin H nên đồng ý. Chiều cùng ngày, H đến khu vực cầu xóm 16, xã G2 và nhận từ chị Quỳnh A số tiền 1.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.

- Lần thứ 03: Sau lần thứ 02 khoảng 02 ngày, H tiếp tục nhắn tin cho chị Quỳnh A qua Zalo nói dối chị Quỳnh A là vẫn chưa dồn đủ tiền mua xe máy và hỏi vay thêm 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn đồng) nữa, chị Quỳnh A đồng ý. Chiều cùng ngày, H tiếp tục đến khu vực cầu xóm 16, xã Giao L2 và nhận từ chị Quỳnh A số tiền 1.500.000 và đã tiêu xài hết.

- Lần thứ 04 và lần thứ 05: Sau lần thứ 03 khoảng 02 đến 03 ngày, H nhắn tin cho chị Quỳnh A qua Zalo nói dối chị Quỳnh A là H cần tiền để thả vạng tại đầm nhà H và hỏi vay tiền chị Quỳnh A hai lần, chị Quỳnh A tin tưởng H và đồng ý. Vào hai buổi chiều sau đó, (không xác định rõ ngày nào) H đến khu vực cầu xóm 16, xã G2 và nhận tiền từ chị Quỳnh A, một lần 3.000.000 (ba triệu đồng), một lần 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Sau khi nhận tiền của chị Quỳnh A, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau đó, chị Quỳnh A có hỏi, đòi lại tất cả số tiền mà H đã vay, H nói dối khi nào bán được vạng thì sẽ trả và sẽ cho thêm tiền, do tin tưởng H, chị Quỳnh A đồng ý và không đòi tiền nữa.

- Lần thứ 06: Ngày 22/10/2017, do điện thoại bị hỏng, H nhắn tin cho chị Quỳnh A qua Zalo rủ chị Quỳnh A đi mua điện thoại, H dặn chị Quỳnh A mang theo CMND và sổ hộ khẩu để chị A đứng tên mua điện thoại trả góp cho H. Ngày 24/10/2017, H và chị Quỳnh A đến cửa hàng điện thoại Sang Ngọc ở TDP 5A thị trấn N, gặp chị Bùi Thị H là chủ cửa hàng hỏi mua trả góp chiếc điện thoại OPPO F3. Chị H yêu cầu đặt cọc số tiền 1.600.000 đồng, do không đủ tiền đặt cọc nên hai người đã ra về. H bảo chị Quỳnh A cho H vay 1.300.000 đồng và hẹn hôm sau đi mua điện thoại. Ngày 25/10/2017, chị A nhắn tin cho H là đã có tiền, H đến đón chị Quỳnh A và cùng nhau quay lại cửa hàng Sang Ngọc đặt cọc 1.650.000 đồng (trong đó H có 350.000 đồng), còn lại là tiền của chị Quỳnh A cho H vay và làm hợp đồng mua trả góp chiếc điện thoại OPPO F3, chị Quỳnh A là người ký hợp đồng, phải trả góp trong 04 tháng tiếp theo, mỗi tháng 1.259.000 đồng. Chiếc điện thoại H là người sử dụng cho đến khi bị bắt giữ.

- Lần thứ 07: Ngày 25/10/2017 sau khi mua điện thoại, H về nhà và sử dụng số thuê bao 01699254xxx điện thoại cho chị Quỳnh A nói dối là đã bị Công an Hải Phòng bắt và hỏi vay 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để khỏi bị đánh. H giả giọng, giới thiệu là công an, bảo chị Quỳnh A lo tiền rồi sẽ thả H về để lấy, chị Quỳnh A đồng ý. Ngày 26/10/2017, H đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2 nhận số tiền 1.000.000 đồng từ chị Quỳnh A và đã sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 08: Khoảng 01 đến 02 ngày sau (không xác định rõ là ngày nào), H lại sử dụng số thuê bao 01699254xxx điện thoại cho chị Quỳnh A hỏi vay 5.000.000 (năm triệu đồng) và nói dối là để lo cho công an nếu không sẽ bị đi tù. H lại giả giọng, giới thiệu là công an để chị Quỳnh A tin. Ngày hôm sau, H đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2, nhận của chị Quỳnh A số tiền 4.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 09: Sau khi nhận của chị Quỳnh A 4.000.000 cùng ngày hôm đó, H tiếp tục sử dụng số thuê bao 01699254xxx điện thoại cho chị Quỳnh A hỏi vay thêm 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn đồng) và nói dối là chưa đủ tiền lo cho công an, chị Quỳnh A đồng ý. Ngày hôm sau, H đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2 nhận của chị Quỳnh A số tiền 3.500.000 và sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 10 và thứ 11: Sau lần thứ 09 khoảng 02 ngày, H tiếp tục sử dụng số thuê bao 01699254xxx điện thoại cho chị Quỳnh A nói dối với lý do là chưa đủ tiền lo cho công an và nếu không lo được sẽ bị đi tù, chị Quỳnh A tin H nên trưa ngày hôm sau, H đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2, nhận của chị Quỳnh A số tiền 5.000.000 đồng. Đến buổi chiều cùng ngày, H tiếp tục điện cho chị Quỳnh A hỏi vay thêm 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nữa cũng với lý do như trên, đến tối H tiếp tục đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2 và nhận từ chị Quỳnh A số tiền 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền trên, H sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 12: Khoảng ngày 10/11/2017, H nhiều lần điện thoại cho chị Quỳnh A hỏi vay thêm 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), H nói dối là để lo cho công an làm hồ sơ thì H mới được thả ra, chị Quỳnh A đồng ý. Đầu giờ chiều khoảng 02 ngày sau đó, H hẹn chị Quỳnh A ra đê biển, khu vực cống số 10 và nhận từ chị Quỳnh A số tiền 3.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ 13: Ngày 14/11/2017, H tiếp tục sử dụng số thuê bao 01699254xxx điện thoại bảo chị Quỳnh A lo cho H 3.000.000 đồng, H nói dối để trả tiền điện thoại trả góp mà trước đó H và chị Quỳnh A đã mua. Chị Quỳnh A nói không lo được tiền, H đã nhiều lần nhắn tin và dụ dỗ để chị Quỳnh A vay tiền cho mình. Sợ bị lộ nên H đã vứt chiếc sim có số thuê bao 01699254xxx và mua 01 sim mới có số thuê bao 0987775xxx rồi tiếp tục điện, nhắn tin thúc chị Quỳnh A vay tiền và dặn chị Quỳnh A phải giữ bí mật. Khoảng gần 18 giờ ngày 16/11/2017, chị Quỳnh A nhắn tin bảo H đến lấy tiền, H điều khiển xe máy BKS 18G1-05348 đến khu vực cầu thuộc xóm 16, xã G2 gặp chị Quỳnh A để lấy tiền. Sau khi nhận của chị Quỳnh A số tiền 3.000.000 đồng thì bị lực lượng Công an xã Giao Long lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cơ quan CSĐT, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 06/CTR ngày 24/01/2018 của Viên kiêm sat nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố bị cáo Vũ Hoàng H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm b, p khoản 1 Điêu 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 đề nghị xử phạt Vũ Hoàng H 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Quỳnh A và gia đình không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xử lý.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại OPPO F3 thu giữ của Huy là điện thoại do hành vi phạm tội mà có, đồng thời H sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo đều trình bày bản thân nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người giám hộ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của người bị hại, người giám hộ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những người làm chứng cùng vật chứng, các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở để HĐXX kết luận:

Qua mạng xã hội Zalo, cuối tháng 9/2017, Vũ Hoàng H (sinh ngày 08/11/2017) kết bạn và nói chuyện với chị Trần Thị Quỳnh A, H nói dối tên là K ở xã G3 và biết chị Quỳnh A không thật tính, ngờ nghệch nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Quỳnh A để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian ngắn từ tháng 9/2017 đến ngày 14/11/2017, H đã lấy nhiều lý do khác nhau nói dối chị Quỳnh A để vay tiền. Do tin tưởng H nên chị Quỳnh A đã tin và cho H vay tiền 13 lần với số tiền 38.300.000 đồng (ba mười tám triệu ba trăm nghìn đồng) và 5.036.000 đồng (năm triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) trả góp điện thoại cho H, tổng số tiền H đã chiếm đoạt được của chị Quỳnh A là 43.336.000 đồng (bốn mươi ba triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Hoàng H đa phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây ra tâm lý bất an trong nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn quá trẻ, không tự tu dưỡng bản thân mà lại dấn thân vào con đường phạm tội, lợi dụng lòng tin của chị Trần Thị Quỳnh A là một người bị mắc bệnh “Chậm phát triển tâm thần, trí tuệ”, bản thân chị sống phụ thuộc vào gia đình và sự trợ cấp của Nhà nước để chiếm đoạt từ chị một số tiền lớn với mục đích tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu riêng của bản thân. Để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, cần phải xử phạt bị cáo bằng pháp luật hình sự như vậy mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, sau khi bị cáo bị bắt, gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt được của chị Quỳnh A (bao gồm cả tiền trả góp điện thoại) cho chị Quỳnh A, chị Quỳnh A và gia đình không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Đa số các lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên bị cáo được áp dụng Điều 69 và Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 khi quyết định hình phạt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung ngoài xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo sống phụ thuộc vào bố mẹ, không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại OPPO F3 bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo: Vũ Hoàng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 139; điểm b, p khoản 1 Điêu 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt Vũ Hoàng H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ đi 09 (chín) ngày bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 17/11/2017 đến ngày 25/11/2017).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại OPPO F3 bị cáo sử dụng làm công cụ gây án (Được ghi chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


85
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2018/HSST ngày 09/02/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:05/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về