Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 21/06/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 05/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/06/2019 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị M, sinh năm 1996. Địa chỉ cư trú: Thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).

Bị đơn: Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1994. Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/ 2019, quá trình tham gia tố tụng tại Toà án nguyên đơn chị Trương Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị M và anh Hồ Thanh T sau một thời gian tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/11/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã EaĐar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 01/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh T ham chơi, hay uống rượu không quan tâm và chăm sóc gia đình, mỗi lần uống rượu anh Tiến lại đánh đập chị Minh. Chị M đã nhiều lần động viên anh T thay đổi nhưng không được. Mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau được nữa, chị M yêu cầu Toà án giải quyết cho chị M được ly hôn anh Hồ Thanh T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống anh chị có một con chung là Hồ Thanh D, sinh ngày 02/4/2017. Hiện nay, con chung đang ở với chị M, chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không quan tâm chăm sóc nên chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết .

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc nên không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Bị đơn anh Hồ Thanh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định của pháp luật.

- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M. Đề nghị HĐXX giải quyết cho chị M được ly hôn anh Hồ Thanh T. Giao cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Thanh D, sinh ngày 02/4/2017 cho đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị M khởi kiện anh Hồ Thanh T về việc yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện EaKar theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hồ Thanh T là bị đơn trong vụ án, trong quá trình giải quyết anh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa án để giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị M. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Hồ Thanh T.

[2] Về hôn nhân: Chị M và anh T tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaĐar, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk ngày 24 tháng 11 năm 2016. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do có sự bất đồng trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, anh T không quan tâm chăm sóc gia đình, mỗi lần uống rượu lại đánh đập chị M nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không giải quyết được, chị M và anh T đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên chị Minh trở lại đoàn tụ với anh T nhưng không thành. Tại phiên tòa chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện được ly hôn anh T vì không còn tình cảm với anh T. HĐXX xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xử cho chị M được ly hôn anh T.

[3] Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là Hồ Thanh D, sinh ngày 02/4/2017. Từ khi chị M và anh T không chung sống cùng nhau, chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị M là nhân viên bán hàng có thu nhập ổn định. Sau ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét yêu cầu của chị M là phù hợp, chị M có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, mặt khác con chung của anh chị chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của chị M nhiều hơn. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của LHNGĐ, HĐXX cần giao cho chị M trực tiếp nuôi con Hồ Thanh D là phù hợp với pháp luật. Chị M không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 147, điểm b Điều 227; Điều 228, Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M.

- Về quan hệ về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị M được ly hôn anh Hồ Thanh T.

- Về con chung: Giao cho chị Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Hồ Thanh D, sinh ngày 02/4/2017 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hồ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

 - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị M không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

2. Về án phí: Chị Trương Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị M đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2017/0012764 ngày 15/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaKar.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 21/06/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:05/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea Kar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về