Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 05/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thu T sinh năm 1995. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn B Lạng, xã HS, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu B sinh năm 1989. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn LX, xã LT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Hữu B đều xác nhận kết hôn tự nguyện, đăng ký hợp pháp ngày 13/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, anh B nghiện hút ma túy, thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến phá tán tài sản gia đình nên hạnh phúc tan vỡ và vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh Bình còn anh B xin đoàn tụ.

Về con chung: Chị T và anh B xác nhận có một con chung là cháu Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 10/5/2017. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Lâm do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị T và anh B đều xin nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh B xác nhận không có và không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức nhận xét: Quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định; các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh B; giao cháu Lâm cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Hữu B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Mă c dù bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Hữu B kết hôn tự nguyện, có đăng ký là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, căng thẳng, lục đục. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, anh B nghiện hút ma túy, thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến hạnh phúc tan vỡ. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng. Mă c dù anh B xin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp gì để khắc phục, cải thiện mâu thuẫn của vợ chồng.

Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh B bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Xét hoàn cảnh sống, điều kiê n thu nhập, khả năng nuôi dạy con chung Hội đồng xét xử thấy chị T có đủ điều kiện nuôi con chung. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Nguyễn Bảo Lâm hơn một tuổi vẫn do chị T nuôi dưỡng được đảm bảo về mọi mặt. Trong khi đó, anh B hiện không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nghiện ma túy. Vì thế, để đảm bảo quyền lợi và các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu Nguyễn Bảo Lâm nên cần giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh B phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu mới.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh B xác nhận không có gì, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 01 Điều 35, khoản 01 Điều 39, khoản 04 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a, khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

XỬ:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu T được ly hôn anh Nguyễn Hữu B.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Lâm sinh ngày 10/5/2017 cho chị Phạm Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có yêu cầu khác.

Anh Nguyễn Hữu B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B do chị T không yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh B xác nhận không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thu T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ vào 300.000 đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002126 ngày 18/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:05/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về