Bản án 05/2019/HS-ST ngày 24/01/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 05/2019/HS-ST NGÀY 24/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 24 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh  Ninh  Bình  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai vụ  án  hình  sự  sơ  thẩm thụ  lý  số: 02/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo: Vũ Thị Th, sinh ngày 29/3/1960 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Đại lý bán xổ số; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tiến S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; lịch sử bản thân: Tại bản án số 48/HS-PT ngày 13/10/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt Vũ Thị Th 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, ngày 05/3/1999 Vũ Thị Th đã chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

+ Anh Mai Văn H, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn H, xã Khánh C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

+ Chị Lương Thu H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Tổ B, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Người chứng kiến:

+ Ông Đinh Xuân H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thị Th ký hợp đồng làm đại lý bán xổ số và lô tô cho Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Ninh Bình. Chiều ngày 15/11/2018 tại khu vực vỉa hè thuộc tổ 9, phường B, thành phố Tam Điệp; lợi dụng việc bán vé xổ số Th đã nhận ghi số lô và số đề cho nhiều người với tỷ lệ thắng, thua như sau: đề ghi 1.000 đồng, nếu trúng được 70.000 đồng; lô ghi 01 điểm là 22.000 đồng, nếu trúng được 80.000 đồng. Khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, Th ghi cho Nguyễn Văn T 05 số lô (số lô 96 ghi 50 điểm; số lô 69 ghi 30 điểm; số lô 97, 79, 98 mỗi số ghi 10 điểm) và 02 số đề 96, 69 mỗi số ghi 110.000 đồng với tổng số tiền là 2.640.000 đồng và ghi cho Mai Văn H 02 số lô (số lô 53, 35 mỗi số ghi 40 điểm) và 03 số đề (số đề 57, 75 mỗi số ghi 550.000 đồng; số đề 94 ghi 175.000 đồng) với tổng số tiền là 3.035.000 đồng. Tổng số tiền Th bán số lô, số đề cho T và H là 5.675.000 đồng. Th ghi các số lô, đề mà T và H đã mua vào 02 tờ cáp đề đưa cho T, H rồi nhận tiền từ T và H, đúng lúc đó thì bị Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang. Tại chỗ Công an thu giữ 01 tờ giấy A4 Th ghi các số lô, số đề đã bán cho khách chiều ngày 15/11/2018; 01 tờ vé lô tô mặt sau có ghi các số lô, số đề Th đã bán cho T; 01 tờ vé lô tô mặt sau có ghi các số lô, số đề Th đã bán cho H; 01 bút bi vỏ màu trắng xanh; 01 kéo; 01 chiếc ghế nhựa màu nâu; 01 bàn bằng kim loại và số tiền 13.441.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 03/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố Vũ Thị Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 và khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị Th phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Vũ Thị Th từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo Vũ Thị Th trong thời gian chấp hành hình phạt. Phạt tiền bổ sung bị cáo Vũ Thị Th từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Vũ Thị Th số tiền là 2.336.000 đồng; Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo Vũ Thị Th đã sử dụng vào việc đánh bạc là 5.675.000 đồng và số tiền 5.430.000 Th ghi số lô, số đề cho khách đi đường không xác định được tên tuổi, địa chỉ; Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi vỏ màu trắng xanh, 01 chiếc kéo, 01 chiếc ghế nhựa màu nâu.

Trong quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn T, anh Mai Văn H đều trình bày: ngày 15/11/2018 đã mua số lô, số đề của bị cáo Vũ Thị Th thì bị bắt quả tang cùng vật chứng của vụ án.

Trong quá trình điều tra, chị Lương Thu H trình bày: Chị cho bà Vũ Thị Th (mẹ chị) mượn chiếc bàn, chị không biết việc mẹ chị dùng bàn của chị để bán số lô, số đề vào ngày 15/11/2018.

Trong quá trình điều tra, ông Đinh Xuân H trình bày: Ông chứng kiến công an thu giữ 02 tờ cáp ghi số lô, số đề mà Th lập đưa cho T và H, thu của Th 01 tờ giấy có ghi số lô, số đề do Th lập để theo dõi và số tiền 13.441.000 đồng cùng bút bi, kéo, bàn, ghế nhựa.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/11/2018, bị cáo Vũ Thị Th có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn T và Mai Văn H với tổng số tiền 5.675.000 đồng nhằm thu lời bất chính.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể đã được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với mục đích kiếm lời, bị cáo cố ý bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn T và Mai Văn H víi tổng số tiền 5.675.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 [4] Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” tại bản án số 48/HS-PT ngày 13/10/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, ngày 05/3/1999 Vũ Thị Th đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa, phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội mà lại phạm tội.

 [5] Xét thấy bị cáo Th phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo; giao bị cáo cho chính quyền địa phương là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự và khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nhằm thu lời bất chính, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị Th theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

 [7] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bàn bằng kim loại, qua điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lương Thu H – là con gái của bị cáo Th. Việc bị cáo Th dùng chiếc bàn vào mục đích phạm tội chị H không biết. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại chiếc bàn cho chị H là đúng pháp luật.

Đối với 01 tờ giấy A4 do Th ghi các số lô, số đề đã bán cho khách chiều ngày 15/11/2018; 01 tờ vé lô tô mặt sau có ghi các số lô, số đề Th đã bán cho T; 01 tờ vé lô tô mặt sau có ghi các số lô, số đề Th đã bán cho H. Những chứng cứ này đã được lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.

Đối với số tiền 13.441.000 đồng thu giữ của bị cáo; trong đó có số tiền 5.675.000 đồng là số tiền do bị cáo bán số lô, số đề mà có và số tiền Th bán số lô, số đề cho khách đi đường không xác định được tên, địa chỉ là 5.430.000 đồng là số tiền thu lời bất chính, tổng cộng 11.105.000 đồng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về số tiền 2.336.000 đồng là tiền của bị cáo Th không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Th 2.336.000 đồng là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 bút bi vỏ màu trắng xanh, 01 kéo cắt giấy bằng kim loại, 01 ghế nhựa màu nâu, bị cáo đã dùng để ghi số lô, số đề là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 [8] Đối với Nguyễn Văn T và Mai Văn H: Hành vi mua số lô, số đề của T và H với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, T và H đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T và Mai Văn H là đúng pháp luật.

 [9] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

 [10] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321, Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

-  Điểm a  khoản  1  Điều  23  Nghị  quyết  số  326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Th phạm tội “ Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Th 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Vũ Thị Th cho Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo Vũ Thị Th có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Vũ Thị Th phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo Vũ Thị Th trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.

Trường hợp bị cáo Vũ Thị Th không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Vũ Thị Th 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Trả lại cho bị cáo Vũ Thị Th với số tiền là 2.336.000 đồng (Hai triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 11.105.000 đồng (Mười một triệu một trăm linh năm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo.

 (Số tiền nêu trên hiện đang trong tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, theo ủy nhiệm chi lập ngày 04/01/2019 giữa Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bút bi vỏ màu trắng xanh, 01 kéo cắt giấy bằng kim loại, 01 ghế nhựa màu nâu. (Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Thị Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HS-ST ngày 24/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:05/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Điệp - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về