Bản án 06/2018/DS-ST ngày 31/05/2018 về tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 06/2018/DS-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 11/2017/TLST-DS ngày 24/10/2017 về tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXXST-DS ngày 24/4/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-DS ngày 23/5/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Ngô Thị S, sinh năm 1952;

2. Anh Nguyễn Duy H1, sinh năm 1974;

3. Chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1975;

4. Anh Nguyễn Duy H3, sinh năm 1988;

Đều địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

5. Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1982;

6. Anh Đỗ Huy B, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đều vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của chị T, anh B: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt.

(Theo 02 Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2017)

- Người đại diện theo ủy quyền của bà S, anh H1, chị H2, anh H3: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

(Theo Văn bản ủy quyền ngày 20/12/2017)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2017, bản tự khai và các biên bản ghi lời khai của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B (do bà Nguyễn Thị N là đại diện) trình bày:

Năm 1993, gia đình bà N có 04 khẩu, thì 03 khẩu được cấp đất theo nghị quyết 03 là bà N và 02 con là Đỗ Thị T và Đỗ Huy B. Chồng bà N là bệnh binh nên không được cấp ruộng. Tổng diện tích đất nông nghiệp nhà bà N được cấp là 1512m2 gồm 06 thửa ở các xứ đồng: Đài Bi, Cấp 2, Quốc Tuấn, Vạn Tải, An Châu. Thời hạn giao đất theo Nghị quyết 03 là 20 năm từ ngày 15/10/1993 đến ngày 15/10/2013.

Năm 2003, UBND xã N đã tiến hành dồn ô đổi thửa và thực hiện việc đo đạc, lập tờ bản đồ canh tác mới. Sau khi tiến hành dồn ô đổi thửa thì 06 thửa ruộng của nhà bà N được dồn lại còn 02 thửa ở hai xứ đồng là: Thửa số 285 tờ bản đồ số 1 đồng Quốc Tuấn diện tích 959m2 và thửa số 38 tờ bản đồ số 10 đồng Đống Mắm diện tích là 588m2 (bản đồ canh tác năm 2006).

Ruộng ở đồng Đống Mắm nhà bà N gần cạnh với ruộng nhà ông H. Thời điểm năm 2006, gia đình ông H chăn nuôi vịt, thường xuyên để vịt sang phá ruộng nhà bà N, gây khó khăn cho việc sản xuất nông nghiệp. Sau đó, gia đình bà đến nói chuyện với ông H thì ông H bảo là bán thửa ruộng đó cho gia đình ông H. Do việc cấy lúa gặp khó khăn nên sau đó gia đình bà đã đồng ý bán thửa ruộng đó cho gia đình ông H với thời hạn 6 năm với giá là 200.000đ/sào/năm. Lúc đó, ông H có viết giấy mua bán ruộng và đưa tiền cho gia đình bà N. Số tiền cụ thể bà N không nhớ. Hết hạn 6 năm (năm 2012) bà N và con trai là Đỗ Huy B có mang giấy mua bán ruộng đến nhà ông H để đòi ruộng thì ông H bảo là thuê thêm 01 năm nữa đến hết 15/10/2013 để chờ nhà nước chia lại ruộng. Gia đình bà N lúc đó cũng đồng ý cho ông H thuê thêm một năm nữa và nhận tiền thuê ruộng 01 năm từ phía ông H cũng với giá là 200.000đ/sào/năm. Ông H bảo đưa giấy mua bán ruộng cho ông H nhưng sau đó không trả lại cho gia đình bà. Đến hết thời hạn mua bán ruộng 15/10/2013 thì ông H lại không trả lại ruộng. Nhà nước cũng không chia lại ruộng khác cho nhà bà vì vậy gia đình bà và các hộ dân khác trong thôn đã đến nhà ông H đòi ruộng nhưng ông H không trả. Ủy ban nhân dân xã cũng đã hòa giải nhưng không được vì vậy bà đã khởi kiện ra tòa.

Sau khi xem bản phô tô giấy bán ruộng - mua ruộng ngày 03/01/2006 mà Tòa án thu thập tại Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N (bên mua là Nguyễn Duy H, bên bán là Nguyễn Thị N), bà N xác định về nội dung của giấy bán ruộng – mua ruộng, Tòa án thu thập tại phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì đúng là thỏa thuận giữa gia đình bà N và phía ông H. Còn về chữ ký và chữ viết thì bà N không xác định được có phải là chữ ký bà N ký không vì thời gian đã lâu.

Về diện tích đất nông nghiệp: Tại đơn khởi kiện bà N yêu cầu gia đình ông H trả 558m2 đất nông nghiệp. Nhưng sau khi được xem các tài liệu do Tòa án thu thập tại Ủy ban nhân dân xã N, bà N xác định theo hồ sơ địa chính thì diện tích đất nông nghiệp ở khu đồng Đống Mắm nhà bà N là thửa số 38 tờ bản đồ số 10 đồng Đống Mắm diện tích là 588m2  (bản đồ canh tác năm 2006). Hiện tại ông H đang quản lý, sử dụng. Trước đây bà N khai diện tích là 558m2  là do bà nhớ nhầm. Trong giấy bán ruộng - mua ruộng ngày 03/01/2006 thể hiện gia đình bà bán cho gia đình ông H 576m2  cũng là do gia đình bà xác định nhầm diện tích. Nay bà N yêu cầu phía gia đình ông H phải trả lại 588m2  ruộng tại đồng Đống Mắm đúng mnhư diện tích đất của gia đình bà được giao thể hiện trong sổ sách của địa phương. Bà N yêu cầu gia đình ông H phải trả ruộng cho gia đình bà N theo nguyên trạng ban đầu, nếu không trả lại được thì phải trả lại theo giá của Nhà nước quy định.

- Bị đơn ông Nguyễn Duy H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 (đại diện là ông Nguyễn Duy H) trình bày:

Khoảng năm 2000 huyện và tỉnh có chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với một số đất ruộng ở khu bãi trũng Đống Mắm, thôn T, xã N do đất ngập úng, trồng lúa không phù hợp. Năm 2001 gia đình ông H đã thực hiện chuyển đổi đất ruộng của gia đình sang đất nuôi trồng thủy sản (đào ao, lập vườn). Xung quanh thửa ruộng nhà ông H có một số ruộng nằm trong vùng được phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện N. Gia đình ông H có nhu cầu mở rộng diện tích đất để đào ao, lập vườn vì vậy có mua thêm diện tích đất ruộng của một số gia đình xung quanh (ở Bãi Đống Mắm). Mỗi năm mua một ít để mở rộng dần ra. Khoảng năm 2007, gia đình ông H có mua của gia đình bà N khoảng hơn một sào đất tại khu đồng Đống Mắm tại xã N. Cụ thể diện tích ông H không nhớ. Diện tích đất này cũng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không rõ diện tích bao nhiêu. Việc mua bán này gia đình ông và bà N tự thỏa thuận, giao dịch. Lúc mua bán, nhà ông H và gia đình bà N thỏa thuận mua với mục đích lâu dài, vĩnh viễn, để lập vườn. Không thỏa thuận mua theo thời hạn. Bên gia đình bà N cũng đồng ý và nhất trí bán như vậy. Lúc đó, thửa đất của bà N là thấp nhất ở khu đồng Đống Mắm, cạnh khu chuyển đổi của gia đình ông H. Việc mua đất của nhà bà N lúc đầu nhà ông H cũng không có ý định, nhưng nhà bà N đến nài nỉ nên gia đình ông H mới mua cho. Khi hai bên mua bán đất thì không lập văn bản, hợp đồng vì đất này không có giấy tờ. Khi mua bán chỉ có 02 bên gia đình giao dịch với nhau, không có ai chứng kiến, hai bên thống nhất nội dung mua bán và giao tiền cho nhau là xong. Sau khi mua đất xong gia đình ông H đã nhập vào diện tích đất của gia đình và làm vườn, chuyển đổi thành đất 50 năm, sử dụng ổn định từ đó đến nay.

Sau khi xem các tài liệu tòa án thu thập tại phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N, trong đó có giấy bán ruộng - mua ruộng ngày 03/01/2006 (bên bán Nguyễn Thị N, bên mua Nguyễn Duy H), ông H xác định giấy này là do ông giao cho phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Ông H cũng xác định do thời điểm đó ruộng của nhà bà N chỉ được Nhà nước giao có thời hạn 20 năm, đến hết Nghị quyết 03 (tức là 15/10/2013), nên các giấy tờ mua bán giữa gia đình ông với gia đình bà N cũng chỉ ghi mua đến hết Nghị quyết 03. Theo ông H như vậy là ông đã mua hết quyền sử dụng đất mà Nhà nước giao cho gia đình bà N.

Nay gia đình bà N cho rằng chỉ bán diện tích đất trên cho gia đình ông H có thời hạn, quan điểm của ông H là không đồng ý vì gia đình bà N có bán đất vĩnh viễn thì gia đình ông H mới đào ao, lập vườn, chuyển đổi thành đất 50 năm. Việc mua bán này là mua đứt, bán đoạn. Gia đình ông H cũng không đồng ý việc trả lại đất cũng như việc trả tiền thêm và đề nghị Tòa án cứ xem xét, giải quyết.

- Tại biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân xã N, UBND xã N xác định:

Năm 1993, hộ gia đình nhà bà Nguyễn Thị N có 04 khẩu, trong đó có 03 khẩu được cấp đất theo nghị quyết 03 gồm: bà Nguyễn Thị N, các con là Đỗ Thị T và Đỗ Huy B. Tổng diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình bà N được cấp là 1512m2 gồm 06 thửa ở các xứ đồng khác nhau. Thời hạn giao đất theo Nghị quyết03 là 20 năm từ ngày 15/10/1993 đến ngày 15/10/2013. Năm 1999 hộ gia đình bà Nguyễn Thị N có tên trong sổ giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hộ gia đình bà N đã  được nhận GCNQSDĐ chưa thì địa phương không nắm được vì trong không có tài liệu để xác định.

Năm 2003, thực hiện việc dồn ô đổi thửa nên UBND xã N đã tiến hành chia lại ruộng và thực hiện việc đo đạc lập tờ bản đồ canh tác mới. Sau khi tiến hành dồn ô đổi thửa thì các hộ dân không được cấp lại GCNQSDĐ mà vẫn giữ nguyên GCNQSDĐ đã cấp năm 1999 theo diện tích đất đã được giao từ năm 1993.

Năm 2005, UBND huyện N đã ra Quyết định số 3498/QĐ-UBND ngàym 29/12/2005. Theo đó, UBND xã N được chuyển đổi 174.110m2  đất trồng lúa bấp bênh, đất ao mương để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đào ao, nuôi trồng thủy sản và lập vườn trồng cây, vị trí khu đất tại bản đồ canh tác số 01, 02, 05, 06, 08, 10. Việc giao dịch mua bán đất giữa hộ nhà bà N với nhà ông H như thế nào thì UBND xã không nắm được vì khi mua bán các bên không đến UBND xã để chứng thực văn bản mua bán.

Khoảng năm 2005 - 2006, hộ gia đình ông H sau khi giao dịch chuyển nhượng đất đã tiến hành đào ao, lập vườn, làm hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Năm 2010 đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp Quyết định chuyển đổi số 2296/QĐ-UBND ngày 20/12/2010, tổng diện tích chuyển đổi là 11.211m2.

Thửa đất tranh chấp giữa hộ gia đình bà Nguyễn Thị N và hộ ông Nguyễn Duy H là thửa số 38 tờ bản đồ số 10 (bản đồ canh tác năm 2006) diện tích là 588m2 ở xứ đồng Đống Mắm, thuộc thôn T, xã N, huyện N hiện tại đang nằm trong diện tích đất trang trại nhà ông H ở khu Đống Mắm, còn cụ thể tại vị trí nào, kích thước thửa đất UBND xã không nắm được vì sau khi các hộ giao dịch mua bán xong, hộ ông Nguyễn Duy H đã làm trang trại nên hiện trạng thửa đất không còn như trước, không còn ranh giới giữa các thửa đất của các hộ dân như khi cấp đất theo Nghị quyết 03. Diện tích thực tế đất nông nghiệp mà hộ gia đình ông H đang sử dụng hiện tại là bao nhiêu địa phương không nắm được vì chưa tiến hành đo lại.

- Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N cung cấp: Năm 2010, phòng Nông nghiệp được Ủy ban nhân dân huyện N giao làm cơ quan chủ trì xem xét hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang đầu tư dự án trang trại kinh tế nông nghiệp của một số hộ dân ở huyện N, trong đó có hộ ông Nguyễn Duy H. Hồ sơ chuyển đổi do Ủy ban nhân dân xã N hướng dẫn các hộ dân thực hiện và chuyển đến phòng Nông nghiệp xem xét. Sau khi  xem xét hồ sơ đầy đủ thủ tục theo quy định, phòng Nông nghiệp phối hợp cùng các cơ quan chức năng thống nhất trình UBND huyện N ra quyết định. Tại quyết định số 2296/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 Ủy ban nhân dân huyện N đã quyết định về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang đầu tư dự án trang trại kinh tế nông nghiệp của hộ ông H ở thôn T, N, tổng diện tích đất làm trang trại là 11.211m2.

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đầu tư kinh tế trang trại của hộ ông H tại thôn T là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và chủ trương của huyện N. Còn việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông H với các hộ dân như thế nào phòng Nông nghiệp không nắm được.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2018: Các đương sự có mặt không xác định được cụ thể vị trí, kích thước thửa đất tranh chấp vì hiện tại đã gia đình ông H đã nhập vào chung với các thửa đất khác và đào ao, lập vườn.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 13/4/2018: Hội đồng định giá xác định giá đất nông nghiệp tại khu đất tranh chấp có giá trị là 70.000đ/m2. Các công trình, cây cối trên đất các đương sự không yêu cầu định giá.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung đã trình bày ở trên. Ngoài ra, bà N cũng không yêu cầu Tòa án xác định rõ phần được hưởng của từng thành viên trong hộ gia đình mà việc đó để gia đình bà tự giải quyết, phân chia.

Ông Nguyễn Duy H được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng; bị đơn ông H không chấp hành việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không đến tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, vi phạm nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, Điều 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc đưa vụ án ra xét xử của Tòa án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết: Áp dụng: Điều 166, Điều 170, điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 179, khoản 3 Điều 210, khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai; Điều 164, 166, khoản 1 Điều 275, Điều 357, điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 303, 600 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

Buộc ông Nguyễn Duy H và bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 phải trả cho bà Nguyễn Thị N, chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B (do bà Nguyễn Thị N là đại diện) giá trị 588m2  đất nông nghiệp là 41.160.000đ (Bốn mươi mốt triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn).

Giao cho ông Nguyễn Duy H, bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 sử dụng 588m2  đất nông nghiệp tại thửa số 38 tờ bản đồ số 10 bản đồ canh tác năm 2006 xã N. (hiện đang nằm trong khu trang trại nông nghiệp mà gia đình ông H đang sử dụng).

Bà Nguyễn Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B (do bà Nguyễn Thị N là đại diện) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản.

Ông Nguyễn Duy H được miễn án phí dân sự sơ thẩm nhưng phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án - chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B vắng mặt đã ủy quyền cho bà N là đại diện; bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 vắng mặt đã ủy quyền cho ông Nguyễn Duy H đại diện; ông Nguyễn Duy H đã được Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N yêu cầu gia đình ông Nguyễn Duy H phải trả 588m2  đất nông nghiệp trồng cây hàng năm tại đồng Đống Mắm của gia đình bà N, HĐXX thấy: Về nguồn gốc và hiện trạng sử dụng: 588m2  đất tại thửa số 38 tờ bản đồ số 10 bản đồ canh tác năm 2006 xã N tại khu đồng Đống Mắm, thôn T, xã N đã được Nhà nước giao cho hộ nhà bà N sử dụng trên cơ sở dồn ô, đổi thửa năm 2003. Hộ gia đình bà N hiện tại cũng đang đứng tên trong thửa đất. Tại Bảng thống kê diện tích, loại đất chủ sử dụng theo hiện trạng xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương, sổ mục kê đất (kèm theo bản đồ canh tác năm 2006) vẫn thể hiện: tờ bản đồ số 10; thửa số 38; diện tích 588m2; loại đất LUC; họ tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Thị N. Do đó, thửa đất này có nguồn gốc là của hộ gia đình bà N. Năm 2006, gia đình bà N đã bán thửa đất này cho gia đình ông Nguyễn Duy H, việc mua bán không qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không làm thủ tục trước bạ sang tên, mua bán có thời hạn từ vụ chiêm năm 2006 đến hết Nghị quyết 03. Hiện tại gia đình ông H đang quản lý, sử dụng.

[3] Về giao dịch mua bán đất: Ngày 03/01/2006, gia đình bà N đã chuyển nhượng cho ông H diện tích 588m2  đất nêu trên bằng giấy viết tay, không làm thủ tục hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các bên đã thực hiện việc giao đất, nhận tiền. Thời hạn nhận chuyển nhượng từ ngày 03/01/2006, có thời hạn hết nghị quyết 03, từ vụ chiêm năm 2006 đến hết năm 2013, với giá 1.400.000đ/1sào, mỗi năm 200.000đ/sào; sau đó nếu Nhà nước chia lại ruộng thì người bán đất vẫn được nhận tiêu chuẩn ruộng của mình, còn người mua đất nếu tiếp tục được sử dụng diện tích đó thì phải bị trừ tiêu chuẩn ruộng của mình. Như vậy, có cơ sở xác định việc mua bán đất ruộng giữa hộ gia đình bà N với ông H chỉ trong thời hạn nhất định, cụ thể từ năm 2006 đến hết Nghị quyết 03 (15/10/2013), chứ không phải gia đình bà N đã bán ruộng vĩnh viễn cho ông H. Thời gian bán phù hợp với số tiền giao dịch là 200.000đ/sào/năm. Thực tế, đến nay ông H vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà hộ gia đình bà N vẫn là chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích chuyển nhượng.

[4] Ông H xác định do thời điểm mua, gia đình bà N chỉ được giao đất đến 15/10/2013, nên ông mua như vậy là đã mua hết quyền sử dụng đất nhà bà N; việc mua bán giữa gia đình ông H với gia đình bà N là mua đứt, bán đoạn; sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông đã làm đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng và được Ủy ban nhân dân huyện N chấp thuận dự án theo quyết định số 2296/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 với thời hạn sử dụng là 50 năm, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Xét thấy việc mua bán quyền sử dụng đất là có thật, nhưng thỏa thuận mua bán có thời hạn. Hơn nữa, quyết định số 2296/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 Ủy ban nhân dân huyện N chỉ là quyết định quy hoạch về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, không phải là một trong những giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai, nên không phải là căn cứ pháp lý xác định quyền sử dụng đất của gia đình ông H.

[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2003 thì “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về luật đất đai …” và Nghị quyết 49/2013/QH13  ngày 21/6/2013 đã quy định “… Nhà nước không điều chỉnh lại đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối đã giao cho hộ gia đình theo Luật Đất đai  số 13/2003/QH11; hộ gia đình cá nhân tiếp tục được sử dụng cho đến khi Luật đất đai (sửa đổi) được ban hành và có hiệu lực thi hành, khi đó thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân áp dụng theo Luật Đất đai (sửa đổi). Theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013 thì “ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp đã được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất… trước ngày 01/7/2014, khi hết thời hạn sử dụng đất nếu có nhu cầu thì tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126, thời hạn sử dụng đất được tính từ ngày 15/10/2013 đối với trường hợp hết hạn vào ngày 15/10/2013….” Theo khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai thì “ Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp… là 50 năm…”. Diện tích đất tranh chấp là đất nông nhiệp, Nhà nước giao cho hộ gia đình bà N, ngày 15/10/2013 cũng là ngày hết thời hạn sử dụng đất theo Nghị quyết 03 và cũng là ngày hết thời hạn chuyển nhượng đất giữa hai bên theo thỏa thuận. Nay gia đình bà N vẫn có nhu cầu sử dụng và đòi lại ruộng, nên gia đình ông H phải trả lại gia đình bà N 588m2  đất nông nghiệp tại đồng Đống Mắm, thôn T, xã N là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 105, Điều 106, khoản 1 Điều 67 Luật đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 210, khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013; Điều 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

[6] Xét thấy, gia đình ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình bà N và nhiều hộ gia đình khác, sau đó gia đình ông H đã chuyển đổi mục đích sử dụng đào ao, trồng cây, xây dựng chuồng, trại nên thửa đất của gia đình bà N không còn nguyên hiện trạng như ban đầu, không xác định được vị trí, hình thể của thửa đất. Do vậy, để bảo đảm giá trị công trình, tài sản và ổn định cho người sử dụng đất hiện tại cần buộc ông H, bà S, anh H1, chị H2, anh H3 phải thanh toán trị giá diện tích 588m2 đất nông nghiệp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị N là phù hợp. Vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà N buộc ông Nguyễn Duy H, bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 phải trả cho hộ gia đình bà N giá trị 588m2  đất bằng 41.160.000đ; giao cho ông Nguyễn Duy H, bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 được sử dụng 588m2 đất của hộ gia đình bà N nằm trong thửa 38 tờ bản đồ số 10 bản đồ canh tác năm 2006 ở thôn T, xã N, N, Hải Dương; gia đình ông H tiếp tục sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất.

[7] Phía bà N không yêu cầu xác định phần giá trị đất cụ thể của mỗi thành viên hộ gia đình được hưởng, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận nên bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả tạm ứng án phí mà bà N đã nộp.

Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông H sinh năm 1950 là người cao tuổi, nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí cho ông H.

[9] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận nên ông H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 100.000đ và chi phí định giá tài sản là 325.000đ. Do bà N đã nộp toàn bộ tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tạm ứng chi phí định giá tài sản nên ông H phải hoàn trả số tiền này cho bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 166, Điều 170, điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 179, khoản 3 Điều 210, khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai; Điều 164, 166, khoản 1 Điều 275, Điều 357, điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 303, 600 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.

Buộc ông Nguyễn Duy H và bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 phải trả cho bà Nguyễn Thị N, chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B (do bà Nguyễn Thị N là đại diện) giá trị 588m2  đất nông nghiệp là 41.160.000đ (Bốn mươi mốt triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn).

Giao cho ông Nguyễn Duy H, bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2, anh Nguyễn Duy H3 sử dụng 588m2  đất nông nghiệp tại thửa số 38 tờ bản đồ số 10 bản đồ canh tác năm 2006 xã N. (hiện đang nằm trong khu trang trại nông nghiệp mà gia đình ông H đang sử dụng).

Hộ gia đình ông H liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá tài sản: Ông Nguyễn Duy H phải chịu 100.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và 325.000đ chi phí định giá tài sản. Bà Nguyễn Thị N đã nộp 100.000đ tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và 325.000đ tạm ứng chi phí định giá tài sản, do vậy, ông Nguyễn Duy H phải có trách nhiệm thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị N tổng số tiền 425.000đ (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng chẵn).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí:

Ông Nguyễn Duy H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả bà Nguyễn Thị N 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: AA/2016/0002078, ngày 24/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N, chị Đỗ Thị T, anh Đỗ Huy B (do bà Nguyễn Thị N là đại diện) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Duy H, bà Ngô Thị S, anh Nguyễn Duy H1, chị Nguyễn Thị Thanh H2 và anh Nguyễn Duy H3 (do ông Nguyễn Duy H làm đại diện) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2018/DS-ST ngày 31/05/2018 về tranh chấp kiện đòi quyền sử dụng đất

Số hiệu:06/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Sách - Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về