Bản án 06/2018/HC-PT ngày 27/12/2018 về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 06/2018/HC-PT NGÀY 27/12/2018 VỀ KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 27 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 03/2018/TLPT-HC ngày 16 tháng 11 năm 2018 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2018/HC-ST ngày 09/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2018/QĐ-PT ngày 03 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Lâm Tấn B , sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Số X, đường T, khóm Y, phường Z, thành phố C , tỉnh Cà Mau.

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố C , tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ: Số C, đường H, khóm U, phường Y, thành phố C , tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Bá Tr , sinh năm 1976, chức vụ: Phó

chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty C .

Địa chỉ: Số X, đường T, khóm Y, phường Z, thành phố C , tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Đ , Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty (có mặt).

Địa chỉ: Số U, đường E, khóm A, phường Y, thành phố C , tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Lâm Tấn B là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người khởi kiện ông Lâm Tấn B trình bày:

Năm 1988, ông công tác tại Công ty tư vấn thiết kế C (nay là Công ty C ) đến năm 1997, Công ty cấp cho gia đình ông phần đất tọa lạc tại số 29, đường Tr, khóm X, phường Y, thành phố C với diện tích 18,06m2 để cất nhà ở, việc cấp đất chỉ nói miệng không có giấy tờ. Khi nhận đất, phần đất trên chỉ là đất ao nên gia đình ông đã san lắp và cất nhà ở cho đến nay. Quá trình sử dụng đất, hàng năm ông đều trả tiền thuê đất cho Công ty bằng cách trừ vào lương cuối năm. Đến năm 2004, Công ty tiến hành cổ phần hóa nhưng không đưa diện tích phần đất đã cấp cho gia đình ông vào cổ phần. Năm 2010, Công ty đã thực hiện xong việc cổ phần và tự làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao trùm lên phần đất của gia đình ông. Ngày 16/8/2017, Uỷ ban nhân dân phường Y, thành phố C ra Quyết định số 106/QĐ-KPHQ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 16/11/2017, Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định số 169/QĐ-HBKPHQ về việc hủy bỏ Quyết định số 106/QĐ-KPHQ ngày 16/8/2017. Ngày 22/11/2017, Cán bộ địa chính phường Y, thành phố C đến lập biên bản vi phạm hành chính số 17/BB-VPHC vì cho rằng ông lấn chiếm đất. Ngày 30/11/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định số 175/QĐ-KPHQ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 01/12/2017, Ủy ban nhân dân phường Y trực tiếp triển khai quyết định trên cho ông. Ngày 05/12/2017, ông khiếu nại Quyết định số 175/QĐ-KPHQ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 190/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 với nội dung không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông. Cùng ngày, Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định số 188/QĐ-CC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và mời ông đến nhận quyết định nhưng ông không đến nên niêm yết quyết định trên tại nhà ông. Do đó, ông tiếp tục khiếu nại Quyết định số 175/QĐ-KPHQ, Quyết định số 188/QĐ-CC đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau. Ngày 28/12/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Công văn số 10259/UBND-NC trả lại đơn khiếu nại của ông do không thuộc thẩm quyền và hướng dẫn gửi đơn đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C để được giải quyết theo quy định.

Trong thời gian chờ Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết các khiếu nại trên thì đến ngày 03/01/2018, ông tiếp tục được Ủy ban nhân dân phường Y mời lên làm việc, động viên bàn giao mặt bằng nếu không thì đến ngày 20/01/2018 sẽ thực hiện việc cưỡng chế theo Quyết định số 188/QĐ-CC. Ngày 08/01/2018, Ủy ban nhân dân phường Y ban hành Thông báo số 01/TB-UBND thông báo đến ngày 15/01/2018 sẽ thực hiện việc cưỡng chế. Ngay sau khi biết được thông báo trên, ông đã liên hệ Ủy ban nhân dân thành phố C để được giải quyết theo tinh thần Công văn số 10259/UBND-NC nhưng không được giải quyết nên ông không tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C mà thực hiện việc khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố C vào ngày 12/01/2018 và yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 175/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2017, Quyết định số 188/QĐ-CC ngày 12/12/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố C .

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố C ông Lê Thanh Tùng trình bày:

Về nguồn gốc đất mà ông Lâm Tấn B đang sử dụng trước đây là của Công ty tư vấn thiết kế C . Đến năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất cho Công ty C . Trước đây, Công ty tư vấn thiết kế C tự ý cho ông B mượn đất để ở là trái thẩm quyền đối với tổ chức được nhà nước giao đất nên Ủy ban nhân dân thành phố C có xem xét hỗ trợ bồi thường cho ông B nhưng ông B không đồng ý và có yêu cầu chính sách bồi thường, Ủy ban nhân dân thành phố C cũng đã tổ chức trả lời, đối thoại nhưng ông B cũng không đồng ý giao trả lại đất. Thực hiện theo Thông báo số 28/TB-UBND ngày 09/6/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố C nên ngày 22/11/2017, Ủy ban nhân dân phường Y lập biên bản vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hộ ông B về hành vi “chiếm đất phi nông nghiệp không phải là đất ở” do ông B sử dụng đất không được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Ngày 30/11/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định số 175/QĐ-KPHQ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 12/12/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ra Quyết định số 188/QĐ- CC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Sau khi ban hành các quyết định trên, Ủy ban nhân dân phường Y đã nhiều lần mời ông B đến để trao đổi, vận động ông B tự nguyện thực hiện việc di dời nhưng ông B không thống nhất. Việc ban hành các quyết định trên là đúng quy định pháp luật và đã tống đạt, niêm yết hợp lệ cho ông B nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B . Đồng thời, lý giải việc ban hành Quyết định số 169/QĐ-HBKPHQ về việc hủy bỏ Quyết định số 106/QĐ-KPHQ ngày 16/8/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y là do có sự nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật nên căn cứ pháp luật để ra Quyết định số 106/QĐ-KPHQ là chưa đúng và việc không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông B là do hết thời hiệu xử phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ là người đại diện theo pháp luật của Công ty C trình bày:

Năm 2015, ông Đ tiếp quản Công ty C (gọi tắt là Công ty) và giữ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị. Khi đó, Công ty đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2010 và từ trước đến nay, qua các thời kỳ lãnh đạo, Công ty đã có nhiều đơn yêu cầu các hộ dân đang ở khu tập thể bàn giao đất cho Công ty nhưng chưa thực hiện được nên khi ông về tiếp quản Công ty, ông tiếp tục yêu cầu các hộ di dời trả lại đất cho Công ty nhưng họ không đồng ý di dời. Từ đó, Công ty có đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau giao đất cho thuê đúng như diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố C , Ủy ban nhân dân phường Y thực hiện việc giao đất cho Công ty. Do ông B không đồng ý thực hiện việc giao trả đất nên có đơn khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y đến Tòa án, nay ông Đ đại diện cho Công ty đồng ý hỗ trợ số tiền 30.000.000 đồng để ông B di dời đến nơi khác, trả lại đất cho Công ty.

Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 09/10/2018 của

Toà án nhân dân thành phố C quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Tấn B về việc yêu cầu hủy Quyết định số 175/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2017 của Chủ tịch UBND phường Y về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 188/QĐ-CC ngày 12/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Y về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty C hỗ trợ cho ông Lâm Tấn B chi phí di dời với số tiền là 30.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định.

Ngày 22/10/2018, ông Lâm Tấn B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B . Sửa bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 09/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố C .

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lâm Tấn B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận cho rằng, phần đất có diện tích 18,06m2 hiện ông đã cất nhà và đang ở là đất của Công ty, ông B không có giấy tờ chứng minh phần đất trên ông B được Nhà nước giao đất nhưng hàng năm ông B có nộp tiền thuê đất. Việc Uỷ ban nhân dân phường Y lập biên bản cho rằng ông lấn chiếm đất là không đúng, bởi việc ông cất nhà ở trên đất được sự cho phép của Công ty và đã ở ổn định từ năm 1997 cho đến nay. Khi Công ty thực hiện việc cổ phần hóa cũng không đưa phần diện tích nhà, đất của ông vào cổ phần nhưng Công ty lại làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao trùm lên phần đất của ông đang ở là không đúng quy định. Từ năm 2010 cho đến khi bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ban hành các quyết định trên, chính quyền địa phương cũng không ra quyết định thu hồi đất hay thông báo cho ông biết việc di dời, bàn giao mặt bằng trả lại đất cho Công ty mà khi ông khiếu nại, Uỷ ban nhân dân thành phố C mới mời đến để thương lượng, thỏa thuận mức bồi thường, hỗ trợ di dời. Hiện nay, hiện trạng nhà và đất vẫn không thay đổi so với thời điểm kiểm kê để lập phương án bồi thường. Đã qua, Uỷ ban nhân dân thành phố C có hỗ trợ di dời cho ông là trên 100.000.000 đồng nhưng do số tiền này chưa thỏa đáng nên đến nay ông chưa nhận tiền hỗ trợ di dời. Ông xác định không khởi kiện quyết định phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C mà chỉ khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hai Quyết định số 175 và Quyết định số 188 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Y, thành phố C .

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện tranh luận cho rằng, phần đất ông B đang ở hiện nay là đất của Công ty, do thời gian ông B sử dụng đất có cất nhà và san lấp mặt bằng nên ông B được hỗ trợ di dời số tiền hơn 100.000.000 đồng, hiện nay ông B không nhận tiền nên số tiền trên được gửi tại Kho bạc. Đối với việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ban hành Quyết định số 175 và Quyết định số 188 là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tranh luận cho rằng do trong phần đất của Công ty có 08 hộ cất nhà ở, đã qua có 06 hộ tự di dời trả đất cho Công ty nên Công ty có hỗ trợ di dời xong. Riêng ông B hiện nay không di dời trả đất cho Công ty nên Công ty yêu cầu ông B di dời nhà trả đất, Công ty sẽ tự nguyện hỗ trợ cho ông B 30.000.000 đồng ngoài số tiền ông B được Nhà nước hỗ trợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông B và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Tấn B , Hội đồng xét xử xét thấy: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ban hành Quyết định số 175/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (gọi tắt là Quyết định số 175) và Quyết định số 188/QĐ-CC ngày 12/12/2017 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (gọi tắt là Quyết định số 188) trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính được lập ngày 22/11/2017. Tuy ông Lâm Tấn B không thống nhất với hành vi vi phạm hành chính nêu trong biên bản nhưng ông B có ký tên xác nhận, đại diện Ban nhân dân khóm 6, phường Y cũng ký tên chứng kiến việc lập biên bản vi phạm trên nên về nội dung biên bản, hình thức và thẩm quyền lập biên bản đúng với quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 34 Nghị định số 102/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và hướng dẫn tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính. Do ông B không thi hành biện pháp khắc phục hậu quả theo Quyết định số 175 nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ban hành Quyết định số 188 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng quy định.

[2] Xét thấy phần đất ông B đang cất nhà ở hiện nay là phần đất nằm trong diện tích đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quyết định số 81/QĐ- UBND về việc cho Công ty C thuê phần đất có tổng diện tích 1.056,9m2 tọa lạc tại Số X, đường T, khóm Y, phường Z, thành phố C . Ngày 18/12/2010, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho Công ty C toàn bộ diện tích đất nêu trên. Ông B cho rằng ông cất nhà ở trên phần đất hiện nay là do Công ty cho ông ở và hàng năm ông có nộp tiền thuê đất, tuy nhiên ông B không có giấy tờ gì chứng minh phần đất nêu trên là đất của ông B . Đã qua, Uỷ ban nhân dân thành phố C đã thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời đối với các hộ dân đang cất nhà ở trên phần đất của Công ty trong đó có phần tiền hỗ trợ cho ông B với tổng số tiền 103.029.588 đồng theo quy định, nhưng ông B không thống nhất nhận tiền để di dời ra khỏi phần đất trả lại đất cho Công ty. Ngày 06/7/2017 Uỷ ban nhân dân thành phố C đã tổ chức họp để vận động ông B bàn giao mặt bằng nhưng ông B vẫn không đồng ý. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y đã ban hành Quyết định số 175/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 188/QĐ-CC ngày 12/12/2017 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng. Do đó, yêu cầu của ông B về việc hủy Quyết định số 175 và Quyết định số 188 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Y là không có cơ sở.

[3] Đối với việc bồi thường, hỗ trợ di dời nhà mặc dù ông B không yêu cầu Công ty hỗ trợ nhưng ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp của Công ty đã tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời cho ông B với số tiền 30.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này của Công ty là phù hợp.

 [4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B là đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm ông B cũng không có chứng cứ gì chứng minh việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y ban hành Quyết định 175 và Quyết định số 188 là trái pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông B .

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông B không được chấp nhận nên ông B phải chịu theo quy định.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bác yêu cầu kháng cáo của ông Lâm Tấn B .

Giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 09/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố C .

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Tấn B về việc yêu cầu hủy Quyết định số 175/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2017 của Chủ tịch UBND phường Y về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 188/QĐ-CC ngày 12/12/2017 của Chủ tịch UBND phường Y về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty C hỗ trợ cho ông Lâm Tấn B chi phí di dời với số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

Án phí hành chính sơ thẩm: Người khởi kiện ông Lâm Tấn B phải chịu 300.000 đồng. Ngày 12/01/2018 ông B có tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại lai thu số 0000233 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C được chuyển thu.

Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lâm Tấn B phải chịu 300.000 đồng, ngày 22/10/2018 ông B đã dự nộp 300.000 đồng lai số 0001542 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


120
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về