Bản án 06/2018/HNGĐ-ST ngày 09/03/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 06/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/03/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 09 tháng 03 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 03 năm

2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị V.

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nông Đức C.

Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại đội số 2, phân trại số 1,Trại giam Hồng Ca tỉnh Yên Bái. (Có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 5 tháng 2 năm 2018 và bản tự khai ngày 6 tháng 02 năm 2018 nguyên đơn chị Hoàng Thị V trình bày: Chị và anh Nông Đức C lấy nhau năm 2006 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai vào ngày 02/01/2006. Hôn nhân tự nguyện, không bên nào ép buộc bên nào.

Sau khi cưới nhau thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến tháng 04 năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh C thường xuyên đánh đập ngược đã chị, mặc dù đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên bảo động viên nhưng tình cảm vợ, chồng không hàn gắn được. Chị đã sống ly thân với anh C từ đó cho tới khi anh C vi phạm pháp luật vào tháng 7 năm 2014. Tại bản án số: 35/2016/HSPT ngày 28/01/2016 của Tòa án nhân dân Cấp Cao xử 10 (mười) năm tù về tội “Giết người”. Chị Hoàng Thị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, thời gian anh C chấp hành hình phạt tù là quá lâu, chị không chờ đợi lâu được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nông Đức C được ly hôn.

Về con: Trước khi lấy nhau chị có một người con riêng tên là Hoàng Thị D sinh ngày 08/9/1992 hiện nay cháu đã xây dựng gia đình vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi lấy nhau về chị và anh C sinh được một người con chung cháu tên là Nông Đức M sinh ngày 09/4/2009, nguyện vọng của chị nếu được Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C thì chị sẽ chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Trước khi kết hôn chị và anh C không có tài sản riêng và sau khi lấy nhau về cũng chưa tạo dựng được tài sản chung vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Chị và anh C không nợ ai và không cho người khác vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 02 năm 2018 bị đơn anh Nông Đức C cũng đồng ý ly hôn với chị V anh cho rằng từ khi bị bắt cho tới khi Tòa án xét xử chị V không đến thăm anh lần nào. Vì vậy anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con: Trước khi lấy nhau anh không có con riêng nhưng chị V có một người con riêng tên là Hoàng Thị D anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.Trong thời gian chung sống anh, chị sinh được một người con cháu tên là Nông Đức M sinh ngày 09/4/2009. Nguyện vọng của anh nếu chị Hoàng Thị V và anh ly hôn thì anh nhường quyền cho chị V chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nông Đức M đến tuổi trưởng thành và anh không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu V được vì hiện nay anh chấp hành hình phạt tù tại trại giam.

Về tài sản: Anh và chị Hoàng Thị V không ai có tài sản gì riêng và chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Anh và chị Hoàng Thị V không nợ ai và không cho người khác vay nợ vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ. Do bị đơn Nông Đức C hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam Hồng Ca tỉnh Yên Bái  nên Tòa án tiến hành lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án. Biên bản lấy lời khai của đương sự được thực hiện đúng với quy định tại điều 98 của Bộ luật tố tụng dân sự Vụ án không hòa giải được vì bị đơn anh Nông Đức C có lý do chính đáng theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 12/02/2018 anh C có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa Chị Hoàng Thị V vµ anh Nông Đức C là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Thời gian đầu sống hòa thuận, hạnh phúc đÕn  năm 2012 th× ph¸t sinh m©u thuÉn, nguyªn nh©n ph¸t sinh m©u thuÉn lµ do anh C thường xuyên đánh đập ngược đãi chị, mặc dù hai bên gia đình khuyên bảo động viên nhưng tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Chị đã sống ly thân anh C từ đó cho tới khi anh C vi phạm pháp luật vào tháng 07/2014. Nên bị Tòa án nhân dân Cấp Cao xử phạt Nông Đức C 10(mười) nămtù về tội “Giết người”. Hiện nay anh Nông Đức C đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam Hồng Ca, tỉnh Yên Bái. Điều này chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhâ giữa chị V và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận và xử cho chị V được ly hôn với anh C theo yêu cầu của chị V là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.

[3].Về con: Trước khi lấy nhau chị V có một người con riêng đến nay đã trưởng thành chị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.Trong thời gian chung sống, anh chị có một người con chung nguyện vọng của chị nếu được Tòa án giải quyết cho ly hôn chị xin chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C phải đóng góp tiền nuôi con chung. Mặc dù tại phiên Tòa hôm nay anh C không có mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai, bị đơn Nông Đức C cũng đồng ý để chị V nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nông Đức M đến tuổi trưởng thành vì hiện nay anh đang  chấp hình phạt tù tại trại giam không chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M được, hơn nữa tại bản tự khai của cháu M nếu bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với mẹ.Vì vậy nên giao cháu Nông Đức M sinh ngày 9/4/2009 cho chị Hoàng Thị V chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục nên áp dụng khoản 1,2 điều 81; Khoản 1,3 Điều 82; Khoản 1,2 Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.

[4]. Về tài sản: Chị V và anh C không có tài sản chung và riêng gì nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5]. Về khoản nợ: Chị V và anh C không nợ ai hoặc cho người khác vay nợ vì vậy Tòa án không giải quyết.

6]. Về án phí:

Chị  Hoàng Thị V phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện viện kiểm sát có ý kiến như sau:

+,Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về công tác xây dựng hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của phiên tòa sơ thẩm, không vi phạm thủ tục tố tụng.

+, Về hướng giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án.Trong cuộc sống vợ chồng giữa chị V và anh C có nhiều mâu thuẫn, mặt khác anh C vi phạm pháp luật hiện đang chấp hành hình phạt 10 (mười) năm tù, vì vậy mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu chị V được ly hôn anh C. Về con chung: căn cứ vào ý kiến của các bên (chị V muốn được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; còn ý kiến của anh C do anh đang thi hành án phạt tù, nên nếu ly hôn anh nhất trí để cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M).Căn cứ vào khoản 1 điều 56; khoản 1,2 điều 81; khoản 1,3 điều 82; khoản 1,2 điều 83 Luật hôn nhân gia đình, khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Cần chấp nhận chị V được ly hôn với anh C và giao cháu M cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 tuyên về án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 56; khoản 1,2 điều 81; Khoản 1,3 Điều 82; Khoản1,2 Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228; khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị V được ly hôn anh Nông Đức C.

Về con: Giao cháu Nông Đức M sinh ngày 09/4/2009 cho chị Hoàng Thị V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ18 tuổi), anh C  không phải đóng góp tiền nuôi con chung. Anh Nông Đức C có quyền thăm nom con chung; không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Hoàng Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AB/2012/0000183 ngày 06/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.

Chị Hoàng Thị  V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nông Đức C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”. 


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2018/HNGĐ-ST ngày 09/03/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:06/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Khương - Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về