Bản án 06/2018/LĐ-PT ngày 11/07/2018 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 06/2018/LĐ-PT NGÀY 11/07/2018  VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 05/2018/TLPT-LĐ ngày 11/6/2018 về việc “tranh chấp do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”. Do Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2018/QĐXXPT-LĐ ngày 18/6/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan L, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp 4, xã TVT, huyện BB, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần T, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ  13,  ấp  HY, xã  TH, huyện HQ, tỉnh  Bình Phước (theo Giấy ủy quyền ngày 02/10/2017); có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH The CoTS; địa chỉ: Khu phố BH, phường TPK, thị xã TU, tỉnh Bình Dương do ông KYH - chức vụ: Tổng Giám đốc làm đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

1. Bà Trương Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Lầu 1, đường NĐC, Phường 6, Quận  3, Thành  phố  Hồ Chí  Minh  (theo  Giấy  uỷ  quyền  số  02/2018/UQ  ngày 15/3/2018); có mặt.

2. Ông Triệu VH, sinh năm 1988; địa chỉ: Đường số X, phường BTĐ, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy uỷ quyền số 02/2018/UQ ngày 15/3/2018); vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Trần T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung của bản án sơ thẩm:

* Nguyên đơn ông Phan L do ông Trần T làm đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 14/10/2013, ông L vào làm việc thử việc 02 tháng tại Công ty TNHH Nhà máy CT (sau đây gọi tắt là Công ty CT). Sau đó, ông L với Công ty CT có ký hợp đồng lao động thời hạn 01 năm. Đến ngày 14/12/2015, ông L với Công ty CT ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, mức lương và phụ cấp là 14.125.000 đồng/tháng với chức vụ: Quản lý.

Ngày 29/9/2016, Công ty CT chuyển toàn bộ máy móc, trang thiết bị cho Công ty TNHH The CoTS (sau đây gọi tắt là Công ty CoTS) tại địa chỉ: Khu phố BH, phường TPK, thị xã TU, tỉnh Bình Dương để lắp ráp theo Hợp đồng bán máy số 02TL- TCF/TCS ngày 29/9/2016 và Hóa đơn giá trị gia tăng. Ngày 25/10/2016, Công ty CT tuyên bố chấm dứt hoạt động và chuyển ông L cùng toàn bộ công nhân sang Công Ty CoTS làm việc với trách nhiệm lắp ráp máy móc - trang thiết bị.

Ngày 31/10/2016, Công ty CoTS dán 02 danh sách công nhân được làm việc và công nhân không được làm việc cho Công ty CoTS tại cổng bảo vệ (Công nhân không được làm việc phản ứng và gọi điện thoại cho Công đoàn ngành Dệt may tỉnh Bình Dương xuống giải quyết). Ngày 01/11/2016, Công ty CoTS không cho ông L cùng toàn bộ công nhân trong danh sách không được làm việc vào Công ty làm việc.

Việc Công ty CT tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông Phan L, ông Phan L đã khởi kiện tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết. Tuy nhiên, do Công ty CT không còn hoạt động nên ông L chỉ được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên trả lương những ngày không được làm việc tính từ ngày 20/4/2017 trở về trước. Do đó, ông L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Công ty CoTS phải tiếp tục trả tiền lương những ngày ông L không được làm việc tính từ ngày 25/4/2017 trở về sau. Đồng thời, Công ty CoTS phải tiếp tục bồi thường vì không xây dựng phương án sử dụng lao động khi mua máy móc, trang thiết bị của Công ty CT và cho ông L nghỉ việc. Vì theo Hợp đồng bán máy số 02TL-TCF/TCS ngày 29/9/2016 và theo quy định tại Điều 15 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ thì Công ty CoTS phải có trách nhiệm xây dựng phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động. Công ty CoTS đã để ông L lắp ráp máy móc, trang thiết bị xong rồi cho ông L nghỉ việc là không đúng quy định pháp luật.

Do vậy, ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương giải quyết buộc Công ty CoTS phải bồi thường các khoản: Tiền lương những ngày ông L không được làm việc tính từ ngày 25/4/2017 đến khi vụ án được giải quyết là 11 tháng với số tiền 14.125.000 đồng/tháng x 11 tháng = 155.375.000 đồng; 02 tháng tiền lương theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động là 14.125.000 đồng/tháng x 02 tháng = 28.250.000 đồng; 45 ngày tiền lương do vi phạm thời gian báo là 14.125.000 đồng/tháng : 26 ngày x 45 ngày = 24.447.115 đồng; truy trả tiền BHXH, BHYT, BHTN là 22% cho ông L, tạm tính từ ngày 25/4/2017 đến khi vụ án được giải quyết là 11 tháng = 22% x 14.125.000 đồng/tháng x 11 tháng là  34.182.500 đồng. Tổng cộng Công ty CoTS phải bồi thường cho ông Phan L 242.254.615 đồng. Đồng thời, Công ty CoTS phải nhận ông L trở lại làm việc theo vị trí, mức lương và phụ cấp như ông L đã được Công ty CT chi trả.

* Bị đơn Công ty TNHH The CoTS (sau đây gọi tắt là Công ty CoTS) do bà Trương Thị H làm đại diện trình bày: Công ty CoTS và Công ty CT là hai pháp nhân hoàn toàn độc lập nhau. Giữa Công ty CoTS và Công ty CT có ký kết hợp đồng mua bán máy móc. Công ty CoTS đã nhận máy móc, trang thiết bị và thanh toán tiền đầy đủ cho Công ty CT.

Giữa Công ty CoTS với ông Phan L không có giao kết hợp đồng lao động và thực tế hai bên không phát sinh quan hệ lao động với nhau, nên Công ty CoTS không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L. Theo ông L trình bày thì ông L đến Công ty CoTS để lắp ráp máy móc từ ngày 25/10/2016 đến ngày 31/10/2016 là làm việc cho Công ty CT, không phải làm việc cho Công ty CoTS. Ngoài ra, ông L đã khởi kiện và đã được Tòa án giải quyết buộc Công ty CT bồi thường cho ông L.

Việc  nguyên  đơn  yêu  cầu  Tòa  án  áp  dụng  Điều  15  của  Nghị  định  số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ để buộc Công ty CoTS bồi thường là không đúng. Vì Điều 15 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Điều 46 của Bộ luật Lao động quy định về phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 45 của Bộ luật Lao động. Luật lao động không quy định nghĩa vụ của Công ty mua tài sản phải nhận người lao động của Công ty bán vào làm việc. Do đó, Công ty CoTS không có nghĩa vụ nhận người lao động của Công ty CT vào làm việc. Nguyên nhân, Công ty CoTS nhận một số người lao động từ Công ty CT vì Công ty CoTS có nhu cầu sử dụng lao động nên tuyển dụng.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương đã căn cứ các Điều 32, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố  tụng  dân  sự  năm  2015;  Điều  45  của  Bộ  luật  Lao  động;  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án; tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan L đối với Công ty TNHH The CoTS. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 09/5/2018, ông Trần T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Không chấp nhận toàn bộ phán quyết, quyết định của bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Phan L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan L. Người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Ông Phan L ký hợp đồng lao động với Công ty CT chứ không ký hợp đồng lao động với Công ty CoTS, nên giữa hai bên không có phát sinh quan hệ lao động. Phía nguyên đơn cho rằng: Công ty CT bán máy móc, trang thiết bị cho Công ty CoTS và chuyển ông L sang làm việc tại Công ty CoTS từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016 nên đã phát sinh quan hệ lao động để khởi kiện yêu cầu Công ty CoTS phải bồi thường là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ- ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục: Sau khi nhận được Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, ngày 09/5/2018 người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm là còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo kết quả xác minh của Tòa án nhân dân thị xã TU thì Công ty TNHH Nhà máy CT (sau đây gọi tắt là Công ty CT) đã ngưng hoạt động và người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông KCS đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 20/7/2015 (bút lục 168-171, 178). Do đó, Tòa án nhân dân thị xã TU không đưa Công ty CT vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp. Mặt khác, quan hệ lao động giữa ông Phan L với Công ty CT đã được giải quyết bằng Bản án lao động phúc thẩm số 13/2017/LĐ-PT ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có hiệu lực pháp luật (bút lục 104-108).

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, nhận thấy: Công ty CT là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 3701307394 đăng ký lần đầu ngày 16/12/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 16/10/2015; trụ sở: Khu phố BPA, phường BC, thị xã TA, tỉnh Bình Dương (bút lục 45). Công ty TNHH The CoTS (sau đây gọi tắt là Công ty CoTS) là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu là Ludi 21, LLC; được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 3702498487 đăng ký lần đầu ngày 15/9/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 25/8/2017; trụ sở: Khu phố BH, phường TPK, thị xã TU, tỉnh Bình Dương (bút lục 40, 46). Thời điểm Công ty CoTS thành lập (ngày 15/9/2016) thì Công ty CT chưa thực hiện thủ tục giải thể theo Quyết định số 20/QĐ-SKHĐT ngày 28/4/2016  của  Sở  Kế  hoạch  và  Đầu  tư  tỉnh  Bình  Dương  và  Quyết  định  số 26/QĐHĐTV ngày 25/10/2016 của Hội đồng thành viên Công ty (bút lục 43, 50, 51).

Theo biên bản xác minh ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã TU tại Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Dương, xác định:“Theo hồ sơ đăng ký thành lập Công ty TNHH The CoTS và Công ty TNHH Nhà máy CT thể hiện không có mối quan hệ gì với nhau. Giữa hai Công ty không có sự chia tách, sáp nhập hoặc đổi tên từ Công ty TNHH Nhà máy CT thành Công ty TNHH The CoTS” (bút lục 37, 38). Do đó, Công ty CoTS không có trách nhiệm phải thực hiện “nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã” theo quy định tại Điều 45 của Bộ luật Lao động.

[3] Ngoài ra, Phụ lục hợp đồng lao động số 094227/PLHĐ ngày 01/01/2016 là do ông Phan L ký với Công ty CT (bút lục 08, 09), chứ không phải ký với Công ty CoTS.  “Danh  sách  công  nhân  viên  không  làm  việc  tại  Công  ty  CoTS  ngày 01/11/2016” mà đại diện nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là do Công ty CT ban hành, vì đóng dấu mộc của Công ty CT (bút lục 13, 14), chứ không phải của Công ty CoTS. Việc Công ty CoTS lập “danh sách công nhân viên làm việc tại Công ty CoTS ngày 01/11/2016” (bút lục 10-12) là để giải quyết việc làm cho một số người lao động rơi vào tình trạng mất việc làm tại Công ty CT, không đồng nghĩa với việc giữa Công ty CoTS với ông Phan L đã giao kết hợp đồng lao động. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn cũng đều thừa nhận giữa ông Phan L với Công ty CoTS không có giao kết hợp đồng lao động. Do vậy, việc ông L cho rằng: Công ty CT bán máy móc, trang thiết bị cho Công ty CoTS và chuyển toàn bộ người lao động của Công ty (trong đó có ông Phan L) sang làm việc tại Công ty CoTS từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016 là đã phát sinh quan hệ lao động. Từ đó, ông L khởi kiện yêu cầu Công ty CoTS phải tiếp tục bồi thường cho ông L kể từ ngày 25/4/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm; đồng thời phải nhận ông L trở lại làm việc theo vị trí, mức lương và phụ cấp như Công ty CT đã chi trả là không có căn cứ.

[4] Bởi lẽ, khoản 2 Điều 45 của Bộ luật Lao động quy định: “Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này”. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ cũng quy định về “Trách nhiệm lập phương án sử dụng lao động, tính trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người sử dụng lao động trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp” như sau: “Trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, người sử dụng lao động trước đó có trách nhiệm xây dựng phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động”. Do vậy, Công ty CT là người có trách nhiệm phải lập phương án sử dụng lao động chứ không phải là Công ty CoTS. Vì thế, việc người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu áp dụng khoản 2 Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định:

“Người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động theo phương án sử dụng lao động quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tính trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Lao động” để buộc Công ty CoTS phải có trách nhiệm bồi thường là không phù hợp. Mặt khác, thời gian ông L làm việc tại Công ty CoTS (từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016) là làm việc theo sự điều động của Công ty CT và đã được Công ty CT trả lương theo quy định.

[5] Từ những phân tích tại mục [2], [3] và [4] nêu trên, nhận thấy: Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xử: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan L đối với Công ty TNHH The CoTS” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ông Trần T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận. Ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp cho bị đơn và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn ông Phan L được miễn nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan L.

- Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 04/2018/LĐ-ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương như sau:

Áp dụng các Điều 32, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 45 của Bộ luật Lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan L đối với Công ty TNHH The CoTS.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Phan L được miễn án phí.

- Về án phí lao động phúc thẩm: Ông Phan L được miễn án phí.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về