Bản án 06/2019/DS-PT ngày 21/01/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, bồi thường thiệt hại tài sản và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 06/2019/DS-PT NGÀY 21/01/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT, BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN VÀ HỦY MỘT PHẦN GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở oà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2018/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, bồi thường thiệt hại về tài sản và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2019/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2019 tham gia các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Dương Văn B; có mặt.

2. Bà Lâm h L; có mặt.

Đều cư trú tại: hôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lương Hương L, trợ giúp viên của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- bị đơn: Ông Lộc Văn , cư trú tại: hôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Âu Đ; có mặt.

2. Bà Hoàng  P; vắng mặt.

Đều cư trú tại: hôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

3. Bà Lộc  Đ, cư trú tại: hôn , xã N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn;

4. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn T, Phó Trưởng phòng T huyện L, tỉnh Lạng Sơn là người đại diện theo ủy quyền (quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án dân sự ngày 26/6/2018); có mặt.

5. Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn;

Người đại diện hợp pháp: Bà Mạc Kim O, công chức Đảng Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 09/5/2018); có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Lộc Văn là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án dân sự sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và theo Kết luận giám định tư pháp ngày 10/7/2018 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc ông Hoàng Văn , Kết luận giám định tư pháp ngày 15/8/2018 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc ông Nông Quốc đã được các đương sự xác nhận nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình ông Dương Văn B, bà Lâm h L và gia đình Ông Lộc Văn tranh chấp diện tích đất có tên gọi là: Khu đồi C1 (tên gọi khác là C2) tại thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Tổng diện tích đất tranh chấp là 1.273,2m2 trong đó có: 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730 và 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Đất tranh chấp theo hiện trạng là đất rừng sản xuất. Thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có tổng diện tích 8.300,0m2 đã được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: C 00019 ngày 20/6/2011 cho hộ ông Dương Văn B và bà Lâm h L. hửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có tổng diện tích 31.406m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình nào.

Về cây tTrên đất, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/4/2018 thể hiện tTrên 1.273,2m2 đất tranh chấp có 1712 cây vầu được trồng tại 342,2 m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730; có 28 cây sở tTrên một phần thửa đất số 730 và một phần thửa đất số 917 nằm từ phần đất đã trồng vầu hất ngược lại lên phía đường đất trong đó có 14 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 14 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm. Ngoài ra, còn có 12 cây sở tTrên một phần thửa đất số 730, 917 (trong đó có 06 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 06 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm) bị chặt vào năm 2017.

Qua quá trình giải quyết vụ án, ông Dương Văn B trình bày: Đất tranh chấp có nguồn gốc do gia đình nguyên đơn khai phá, cải tạo sử dụng từ năm 1990 không có tranh chấp với ai. Trong quá trình quản lý sử dụng đất phần đất tranh chấp tại thửa đất số 730 nguyên đơn đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. iện toàn bộ thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có tổng diện tích 8.300m2 đã được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: C 00019 cấp ngày 20/6/2011 cho hộ ông Dương Văn B và bà Lâm h L. Đối với phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn do bị đơn tranh chấp nên nguyên đơn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tTrên phần đất này đã tồn tại các cây sở do nguyên đơn trồng từ năm 1990-1991. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết để nguyên đơn được quyền quản lý sử dụng 1.273,2m2 đất và sở hữu cây tTrên đất; bị đơn phải bồi thường thiệt hại 12 cây sở cho nguyên đơn theo giá tr được thể hiện tại biên bản định giá tài sản ngày 23/4/2018 là 2.310.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định với tổng số tiền là 21.726.000 đồng mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng đồng thời miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Ông Lộc Văn trình bày: Diện tích, địa danh địa điểm, số thửa đất, số tờ bản đồ của đất tranh chấp đúng như nguyên đơn trình bày. Toàn bộ đất tranh chấp có nguồn gốc là đất ông cha để lại cho bị đơn nên thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị đơn. Trên đất tranh chấp tại thửa đất số 730 có các cây vầu do gia đình nguyên đơn trồng vào năm 1990, tại cả 02 thửa đất đang có tranh chấp hiện có 28 cây sở, ngoài ra còn có 12 cây sở bị đơn đã khai thác chặt vào năm 2017. oàn bộ cây sở hiện có và cây sở đã khai thác là do gia đình bị đơn trồng vào năm 1996, cụ thể là do bà oàng h P, bà Lộc h Đ, Ông Lộc Văn trồng. Việc Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 ngày 20/6/2011 cho nguyên đơn đối

với diện tích 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là không đúng pháp luật. Vì vậy, bị đơn bác bỏ toàn bộ các yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã đưa ra, bị đơn đề nghị được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất tranh chấp và sở hữu cây tTrên đất, đồng thời yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 mà Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 20/6/2011 cho nguyên đơn đối với diện tích 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730. ại phiên tTòa sơ thẩm bị đơn và gia đình bị đơn đã thừa nhận 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thuộc quyền quản  lý, sử dụng của nguyên đơn. Việc Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tTrên cho nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. bị đơn và gia đình của mình không yêu cầu Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất tTrên.

Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bên bị đơn là Bà Âu h Đ, Hoàng P, Lộc Đ đều nhất trí với ý kiến trình bày của Ông Lộc Văn .

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 26-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn quyết định:

Căn cứ các Điều 4, 5, 6, 10, 50, khoản 2 Điều 52, Điều 105, Điều 123 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 1, khoản 2 Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ các Điều 3, 4, 26, 98, 99, 100, 166 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ các Điều 158, 160, 161, 163, 164, 166, 170, 189, 221, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 34, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 161, Điều 162, khoản 1 Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, 14, 15, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban hường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí oà án.

1. Về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu cây tTrên đất và nghĩa vụ thanh toán giá tr cây trồng tTrên đất

1.1 Ông Dương Văn B và bà Lâm h L được quyền quản lý và sử dụng 1.273,2m2 đất rừng sản xuất tại khu đồi C1 (tên gọi khác là C2) thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn bao gồm:

- Diện tích 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: C 00019 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 20 tháng 6 năm 2011 cho hộ ông Dương Văn B và bà Lâm h L. Diện tích đất có ranh giới tiếp giáp và kích thước cạnh như sau:

+ Phía Bắc - Đông Bắc: Giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 23 đến mốc 13 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 13,28m + 4,0m + 17,46m

+ 16,03m + 13,60m + 11,05m + 10,44m + 2,24m + 5,66m + 1,55m.

+ Phía Đông Nam: Giáp suối (từ mốc 13 đến mốc 12 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 3,95m.

+ Phía Nam - ây Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ông Dương Văn B, bà Lâm h L được quyền quản lý, sử dụng (từ mốc 12, 11, 10 đến mốc 24 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 12,59m + 8,42m + 50,50m.

+ Phía Tây - Tây Bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 918, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 24 đến mốc 23 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 18,67m.

- Diện tích 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất có ranh giới tiếp giáp và kích thước cạnh như sau:

+ Phía Bắc - Đông Bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 24 đến mốc 10 theo chiều kim đồng hồ) ông Dương Văn B, bà Lâm h L được quyền quản lý, sử dụng có kích thước 50,50m.

+ Phía Đông Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 10, 9 đến mốc 8 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 2,75m + 2,24m.

+ Phía Nam - ây Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 08 đến mốc 02 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 7,21m + 6,40m + 8,06m + 4,12m + 5,83m + 13,89m.

+ Phía Tây - ây bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 918, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, hiện trạng một phần là đường đất (từ mốc 02 đến mốc 25, 24 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 11,72m + 5,38m.

1.2 Ông Dương Văn B và bà Lâm h L được quyền sở hữu cây trồng hiện có tTrên đất gồm: oàn bộ các cây vầu, 28 cây sở trong đó có 14 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 14 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm tTrên diện tích 1.273,2m2 đất rừng sản xuất tại khu đồi C1 (tên gọi khác là C2) thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn bao gồm: 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

1.3 Về đăng ký đất đai (quyền sử dụng đất): Ông Dương Văn B và bà Lâm h L có nghĩa vụ kê khai, đăng ký đất đai (quyền sử dụng đât) đối với diện tích 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo quy định của Luật Đất đai.

1.4 Ông Lộc Văn phải thanh toán giá tr cây trồng (12 cây sở) cho ông Dương Văn B và bà Lâm h L với tổng số tiền là 2.310.000 đồng (hai triệu ba trăm mười nghìn đồng).

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: C 00019 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 20 tháng 6 năm 2011 cho hộ ông Dương Văn B và bà Lâm h L đối với diện tích 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản; giám định

Ông Lộc Văn phải chữu 21.726.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định. Ông Lộc Văn phải trả cho ông Dương Văn B và bà Lâm h L số tiền là 21.726.000 đồng (hai mươi mốt triệu bẩy trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 10/10/2018, Ông Lộc Văn kháng cáo yêu cầu TTòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Buộc ông Dương Văn B và bà Lâm h L chấm dứt tranh chấp đối với diện tích là 462,7m2 thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Công nhận cho gia đình ông Lộc Văn được quyền quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích và tài sản tTrên diện tích đất nêu tTrên; xác nhận diện tích 810,5m2 thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ số 01 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 629506, gia đình ông Lộc Văn không có tranh chấp với gia đình ông Dương Văn B và bà Lâm h L; Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông Dương Văn B, bà Lâm h L với số tiền là 2.310.000 đồng, không chấp nhận chữu toàn bộ các chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và giám định là 21.726.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Lộc Văn yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông B và bà L là nguyên đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình xét xử, chấp nhận yêu cầu, sau khi xét xử bị đơn kháng cáo yêu cầu được quản lý diện tích đất tranh chấp, không chấp nhận bồi thường số cây đã chặt của nguyên đơn và không chữu các chi phí tố tụng.

Về quyền sở hữu diện tích đất tranh chấp, bị đơn không chứng minh được quá trình quản lý sử dụng, nguyên đơn đã quản lý, sử dụng và trồng những cây sở, trên cơ sở kết quả giám định, 28 cây sở phù hợp với thời gian nguyên đơn trồng và được phép tồn tại, như vậy có cơ sở để xác định số cây trên đất là của nguyên đơn, nên diện tích 462,7m2 thuộc quyền quản lý của nguyên đơn.

Về bồi thường thiệt hại: 12 cây sở do bị đơn chặt, kết quả giám định đã đủ cơ sở khẳng định, số cây sở là của nguyên đơn, nên bị đơn phải có trách nhiệm bồi thường.

Về chi phí tố tụng: bị đơn cho rằng không phải chữu là không có căn cứ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng yêu cầu được chấp nhận thì không phải chữu, do đó bị đơn phải chữu các chi phí tố tụng.

Ông Dương Văn B và bà Lâm h L đề ngh không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Lộc Văn , giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và nh ng người tham gia tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tTòa phúc thẩm, hẩm phán, ội đồng xét xử, hư ký phiên tTòa và các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về kháng cáo của người kháng cáo: Ngày 26/9/2018 xét xử sơ thẩm, đến ngày 10/10/2018 ông T kháng cáo là trong thời hạn luật định.

Quan điểm về việc giải quyết đối với Bản án sơ thẩm b kháng cáo: Xét nguồn gốc và quá trình quản lý đất tranh chấp và cây trồng tTrên đất tranh chấp: Đất tranh chấp theo hiện trạng là đất rừng sản xuất. hửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn có tổng diện tích 31.406m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, hộ gia đình nào. Theo nguyên đơn ông B, bà L thì diện tích 462,7m2 đất đang tranh chấp, trước năm 1989 là đất hoang, không người quản lý. ừ năm 1990 gia đình ông B, bà L đã trồng vầu, trồng sở trên phần đất đã khai phá đó. Năm 1990 thì ông B gieo hạt trồng cây sở. Còn Ông Lộc Văn thì cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc là đất hoang, không người quản lý, từ năm 1978 bố mẹ đẻ của ông đã khai phá, canh tác và trồng nhiều loại cây trên đất như đỗ, bông, hồi. Năm 1996 bà Hoàng Th P, bà Lộc h Đ, Ông Lộc Văn đã trồng các cây sở tTrên đất. Năm 2005 ông được phân chia và giao miệng toàn bộ phần đất đang có tranh chấp để quản lý, sử dụng. hời điểm năm 2009 cả gia đình ông và gia đình ông B đều thực hiện việc kê khai phần đất mình đang quản lý sử dụng với cơ quan Nhà nước (đó là các thửa đất 728; 730; 737; 916; 925) trong đó ông kê khai thửa đất 728 và 925 tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, gần với diện tích đất tranh chấp.

Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/4/2018 thể hiện tTrên 1.273,2m2 đất tranh chấp có 1712 cây vầu được trồng tại 342,2 m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730; có 28 cây sở tTrên một phần thửa đất số 730 và một phần thửa đất số 917. 28 cây sở nằm từ phần đất đã trồng vầu hất ngược lại lên phía đường đất (trong đó có 14 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 14 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm). Ngoài ra, còn có 12 cây sở tTrên một phần thửa đất số 730, 917 (trong đó có 06 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 06 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm) b chặt vào năm 2017. Nguyên đơn và gia đình bị đơn đều thừa nhận: Số cây vầu hiện có tTrên diện tích 342,2 m2 là do nguyên đơn trồng vào năm 1990; Ông Lộc Văn là người đã trực tiếp chặt 12 cây sở tTrên đất tranh chấp vào năm 2017. Đối với 28 cây sở hiện có và 12 cây sở đã b chặt tTrên đất tranh chấp nguyên đơn xác định được trồng năm 1990-1991, còn gia đình bị đơn xác định do gia đình bị đơn trồng năm 1996.

Căn cứ Kết quả giám định ngày 27/4/2018 (BL120) của Bộ môn Khoa học gỗ Viện nghiên cứu công nghiệp rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Giám định viên tư pháp theo vụ việc ông Hoàng Xuân N có hông báo kết luận giám định tuổi cây đề ngày 07/5/2018, cụ thể: Cây sở yêu cầu giám định có tuổi là: 26 ±1 năm. Tại phiên tTòa phúc thẩm xác định diện tích đất tranh chấp là 462,7m2. Tại phiên tòa, bị đơn cũng thừa nhận trên diện tích đất tranh chấp được trồng toàn cây sở, bên cạnh diện tích đất tranh chấp chỉ có cây bụi và cây tạp, ngoài ra không trồng cây gì. Như vậy, căn cứ diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay và căn cứ tài liệu hồ sơ vụ án thấy có không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Ông Lộc Văn .

Với phân tích nêu tTrên, thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ông Lộc Văn về yêu cầu được quản lý, sử dụng diện tích 462,7m2 đất tranh chấp. Do nội dung kháng cáo này của ông không có căn cứ để chấp nhận nên việc ông kháng cáo với nội dung không chấp nhận chi phí bồi thường của ông Dương Văn B và bà Lâm h L với số tiền là 2.310.000đ, đối với 12 cây sở mà Ông Lộc Văn đã trồng vào năm 1996 và ông Dương Văn B và bà Lâm h L phải chữu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và giám định là 21.726.000đ cũng không có cơ sở để xem xét.

Đề ngh áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bác toàn bộ kháng cáo của Ông Lộc Văn , gi nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2018/DS- ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tTòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tTòa, tTrên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ; ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên và nh ng người tham gia tố tụng khác tại phiên Tòa.

 [2 Xét kháng cáo của Ông Lộc Văn về yêu cầu được quyền quản lý và sử dụng diện tích đất tranh chấp, thấy rằng về nguồn gốc đất và quá trình quản lý sử dụng thì nguyên đơn và gia đình bị đơn đều thừa nhận: Số cây vầu hiện có tTrên diện tích 342,2 m2 là do nguyên đơn trồng vào năm 1990; Ông Lộc Văn là người đã trực tiếp chặt 12 cây sở tTrên đất tranh chấp vào năm 2017. Đối với 28 cây sở hiện có và 12 cây sở đã b chặt tTrên đất tranh chấp nguyên đơn xác định được trồng năm 1990-1991, còn gia đình bị đơn xác định do gia đình bị đơn trồng năm 1996. Tại Văn bản số 167/NN&P N ngày 04/6/2018 của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện L, tỉnh Lạng Sơn cho biết: hời gian thu hoạch cây sở: hu hoạch cây sở vào tháng 10-11; ….cây sở thường được gieo bằng hạt, gieo hạt vào vụ đông tháng 11-12 hoặc vụ xuân tháng 1-2. Thông thường hạt được rải đều trên luống, hạt nẩy mầm được cấy vào bầu, cây con 01 năm tuổi mới đem trồng;…gieo hạt trong đồi rừng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng…bình thường sau 1-2 tháng hạt mới nảy mầm. Trên cơ sở Kết quả giám định ngày 27/4/2018 của Bộ môn Khoa học gỗ Viện nghiên cứu công nghiệp rừng, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Giám định viên tư pháp theo vụ việc ông oàng uân N có hông báo kết luận giám định tuổi cây đề ngày 07/5/2018, cụ thể: Cây sở yêu cầu giám định có tuổi là: 26 ± 1 năm. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý xác định nguyên đơn là người trồng 28 cây sở tTrên diện tích 1.273,2m2 đất tranh chấp, trong đó có 28 cây sở hiện có tTrên đất và 12 cây sở Ông Lộc Văn đã chặt vào năm 2017.

 [3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp chi phí hết tổng cộng 21.726.000 đồng bao gồm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: 7.600.000 đồng; chi phí đo đạc, trích đo địa chính khu đất: 8.056.000 đồng; chi phí giám định tuổi cây sở: 5.770.000 đồng; chi phí giám định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 300.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và các bên cũng không thỏa thuận được về nghĩa vụ chữu số tiền tTrên. Bởi vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 161, Điều 162, khoản 1 Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bị đơn phải chữu toàn bộ các chi phí này. bị đơn phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng nguyên đơn đã bỏ ra là 21.726.000 đồng.

[4] Rừ những nhận định trên, thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của Ông Lộc Văn , cần gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-S ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

5 Về án phí phúc thẩm: Ông Lộc Văn kháng cáo Bản án sơ thẩm nhưng không được chấp nhận. Nhưng Ông Lộc Văn là người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn tiền án phí (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên Ông Lộc Văn không phải chữu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[6 Các phần của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 158, 160, 161, 163, 164, 166, 170, 189, 221, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 3, 4, 26, 98, 99, 100, 166 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, 14, 15, khoản 1 Điều 29 của Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí TTòa án.T

Không chấp nhận kháng cáo của Ông Lộc Văn , gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 26-9-2018 của TTòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:

1. Về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu cây tTrên đất và nghĩa vụ thanh toán giá tr cây trồng tTrên đất

1.1 Ông Dương Văn B và bà Lâm h L được quyền quản lý và sử dụng 1.273,2m2 đất rừng sản xuất tại khu đồi Chất Nguật (tên gọi khác là Chất Nguột) thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn bao gồm:

- Diện tích 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 629506 số vào sổ cấp giấy chứng nhận: C 00019 của Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 20 tháng 6 năm 2011 cho hộ ông Dương Văn B và bà Lâm h L. Diện tích đất có ranh giới tiếp giáp và kích thước cạnh như sau:

+ Phía Bắc - Đông Bắc: Giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 23 đến mốc 13 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 13,28m + 4,0m + 17,46m

+ 16,03m + 13,60m + 11,05m + 10,44m + 2,24m + 5,66m + 1,55m.

+ Phía Đông Nam: Giáp suối (từ mốc 13 đến mốc 12 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 3,95m.

+ Phía Nam - Tây Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ông Dương Văn B, bà Lâm h L được quyền quản lý, sử dụng (từ mốc 12, 11, 10 đến mốc 24 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 12,59m + 8,42m + 50,50m.

+ Phía Tây - ây bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 918, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 24 đến mốc 23 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 18,67m.

- Diện tích 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Diện tích đất có ranh giới tiếp giáp và kích thước cạnh như sau:

+ Phía Bắc - Đông Bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 24 đến mốc 10 theo chiều kim đồng hồ) ông Dương Văn B, bà Lâm h L được quyền quản lý, sử dụng có kích thước 50,50m.

+ Phía Đông Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 10, 9 đến mốc 8 theo chiều kim đồng hồ) có kích thước 2,75m + 2,24m. + Phía Nam - ây Nam: Giáp với một phần của thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (từ mốc 08 đến mốc 02 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 7,21m + 6,40m + 8,06m + 4,12m + 5,83m + 13,89m.

+ Phía Tây - Tây bắc: Giáp với một phần của thửa đất số 918, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, hiện trạng một phần là đường đất (từ mốc 02 đến mốc 25, 24 theo chiều kim đồng hồ) có cạnh gấp khúc 11,72m + 5,38m.  (Có bản sơ họa ranh giới, mốc giới khu đất tranh chấp kèm theo bản án).

1.2 Ông Dương Văn B và bà Lâm h L được quyền sở hữu cây trồng hiện có tTrên đất gồm: oàn bộ các cây vầu, 28 cây sở trong đó có 14 cây sở có đường kính từ 05 đến 10cm, 14 cây sở có đường kính từ 11 đến 20cm tTrên diện tích 1.273,2m2 đất rừng sản xuất tại khu đồi Chất Nguật (tên gọi khác là Chất Nguột) thôn K, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn bao gồm: 810,5m2 đất thuộc một phần thửa đất số 730, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

1.3 Về đăng ký đất đai (quyền sử dụng đất): Ông Dương Văn B và bà Lâm L có nghĩa vụ kê khai, đăng ký đất đai (quyền sử dụng đât) đối với diện tích 462,7m2 đất thuộc một phần thửa đất số 917, tờ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01 xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo quy định của Luật Đất đai.

1.4 Ông Lộc Văn phải thanh toán giá trị cây trồng (12 cây sở) cho ông Dương Văn B và bà Lâm  L với tổng số tiền là 2.310.000 đồng (hai triệu ba trăm mười nghìn đồng).

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản; giám định Ông Lộc Văn phải chịu 21.726.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định. Ông Lộc Văn phải trả cho ông Dương Văn B và bà Lâm h L số tiền là 21.726.000 đồng (hai mươi mốt triệu bẩy trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định.

3. Nghĩa vụ chữu lãi chậm trả

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí

Ông Dương Văn B và bà Lâm h L không phải chữu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Dương Văn B và bà Lâm h L số tiền 440.000 đồng (bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/01183 ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Ông Lộc Văn được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lộc Văn không phải chữu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật hi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật hi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/DS-PT ngày 21/01/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, bồi thường thiệt hại tài sản và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Số hiệu:06/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lạng Sơn
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/01/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về