Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/03/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 01 tháng 3 năm 2019 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan rang - Tháp chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 582/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/01/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: số 33/15 đường Võ Thị S, khu phố 7, phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Hiện tạm trú: Tổ 1 khu 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Phạm Hùng S, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: số 33/15 đường Võ Thị S, khu phố 7, phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: bà và ông Phan Hùng S tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại nhà ông Sơn ở phường K. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, ông S không có việc làm, không có trách nhiệm chăm sóc gia đình, vợ chồng nhiều bất đồng về quan điểm sống. Không giải quyết được mâu thuẫn nên bà dẫn con về sống ở nhà cha mẹ ruột ở phường Đ từ tháng 9/2018 cho đến nay và cả hai không còn quan tâm gì đến nhau. Nay tình cảm giữa bà và ông S không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông S.

Về con chung: có 02 người con là Phạm Lê Nhất B, sinh ngày 04/8/2010; Phạm Khánh Ng, sinh ngày 01/9/2015. Con chung hiện đang sống cùng bà, bà xin được nuôi 02 con và không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Trong biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn là ông Phạm Hùng S trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kim L về hôn nhân và con chung. Ông thừa nhận vợ chồng chung sống cũng có lúc xảy ra cãi vả do không hiểu nhau, nguyên nhân chính là do thiếu thốn tiền bạc. Ông xác định không níu kéo bà L để vợ chồng về chung sống, nhưng ông không đồng ý ly hôn vì con cái còn nhỏ cần có đủ cha và mẹ. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của bà L thì về con chung ông đồng ý giao 02 con cho bà L nuôi dưỡng và ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan rang – Tháp chàm phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng là nguyên đơn được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng hôn nhân giữa bà L và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn với ông S. Về con chung giao 02 cháu Phạm Lê Nhất B, sinh ngày 04/8/2010; Phạm Khánh Ng, sinh ngày 01/9/2015 cho bà L nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Về thủ tục tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông S vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, bị đơn cư trú tại phường K, thành phố Phan rang – Tháp chàm, tỉnh Ninh Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan rang – Tháp chàm theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Về nội dung:

[1] Quan hệ hôn nhân: giữa bà L và ông S chung sống hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Theo cung cấp của Chính quyền địa phương nơi cư trú thì “hiện tại ông S, bà L đã không còn sống chung, bà L đã về nhà cha mẹ ruột sống, cả hai không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau”. Đồng thời, trong thời gian sống ly thân từ tháng 9/2018 cho đến nay ông S, bà L đã không còn sum họp, dung hòa được cuộc sống chung và cũng không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó lẫn nhau. Mặc dù ông S xin đoàn tụ nhưng vì thương con chứ không hẳn xuất phát từ nhu cầu hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, ông S biết việc xét xử nhưng cũng không có mặt để được Tòa án hòa giải, chứng tỏ ông đã bỏ mặc hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Về con chung: bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên là cháu Phạm Lê Nhất B, sinh ngày 04/8/2010; Phạm Khánh Ng, sinh ngày 01/9/2015 và không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng. Xét con chung là cháu B có nguyện vọng ở với mẹ và hiện cả hai con đang do bà L nuôi dưỡng, ông S cũng không tranh chấp nuôi con. Mặc khác, bà L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, từ khi ông S và bà L ly thân cho đến nay con chung ở với bà L vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát và yêu cầu của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân cũng như việc giải quyết con chung đều có căn cứ phù hợp điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 điều 147 của BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân) không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn là ông Phạm Hùng S 

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Phạm Hùng S.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim L có quyền và nghĩa vụ tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung chưa thành niên là cháu Phạm Lê Nhất B, sinh ngày 04/8/2010 và cháu Phạm Khánh Ng, sinh ngày 01/9/2015. Ông Phạm Hùng S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc ông S thực hiện quyền thăm nom con chung.

Về án phí: bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017629 ngày 19/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan rang – Tháp chàm. Bà L đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án sơ thẩm xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (01/3/2018); vắng mặt bị đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 01/03/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:06/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về