Bản án 06/2019/HS-ST ngày 07/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 06/2019/HS-ST NGÀY 07/03/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2019/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-HS ngày 21/02/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T, sinh năm 1978; STQ: Xóm G, Khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ UBND phường V; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thu H, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2015) và 02 con, lớn sinh 2005, nhỏ sinh 2008; tiền án, tiền sự: không; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; Đại biểu HĐND phường V khóa 21 nhiệm kỳ 2016-2021; đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; tạm đình chỉ thực hiện nhiệm vụ Đại biểu HĐND phường V; tạm giam từ ngày 22/5/2017 đến ngày 03/8/2017 và từ ngày 24/7/2018 đến nay; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị Kim Th và ông Phạm Văn H1 – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Th – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; đều có mặt.

* Bị hại: Anh Trịnh Quốc T1, sinh năm 1983 và chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985 (vợ anh T1); ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; hiện trú tại: Căn 1503- CT 5- Chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn Tr – Luật sư thuộc công ty luật TNHH C – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1952 (bố bị cáo T); vắng mặt (ông Công ủy quyền cho chị  G);

2. Chị Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1983 (em bị cáo T); có mặt. Đều trú tại: Số 162, đường Ng, khu H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

3. Anh Diêm Văn P, sinh năm 1972; trú tại: Khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; trú tại: số 50 đường Ng, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1940; trú tại: số nhà 22, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

3. Anh Chu Văn T3, sinh năm 1973 và chị Trương Thị H, sinh năm 1984 (vợ anh T3); trú tại: tổ 9, Ấp K, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2007 - 2009, bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956, trú tại khu H, phường V, thành phố B có mua quyền và lợi ích diện tích đất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi của hộ bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1940, trú tại: Khu K, phường V (bà M bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nên được hưởng quyền và lợi ích là 01 lô đất dân cư dịch vụ tại dự án K - Đ). Khi mua tiêu chuẩn đất dân cư dịch vụ hai bên đã làm giấy tờ gồm: 01 bản cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất giãn dân thôn K có chữ ký của bà M và xác nhận của chính quyền địa phương; 02 giấy ủy quyền có chữ ký của bà M, có xác nhận của trưởng thôn và Ủy ban nhân dân phường V, bên nhận ủy quyền để trống; 02 hợp đồng ủy quyền; 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và 01 giấy biên nhận tiền có nội dung để trống, chỉ có chữ ký và điểm chỉ của bà M. Sau đó, bà Th được tiêu chuẩn 01 lô đất dân cư dịch vụ tại dự án K - Đ.

Năm 2010, Nguyễn Xuân T là cán bộ Văn phòng - Thống kê UBND phường V mua lại của bà Th lô đất dân cư dịch vụ tại dự án K - Đ mà bà Th đã mua của bà M (do thời gian lâu nên 2 bên không nhớ giá mua bán là bao nhiêu). Khi mua bán bà Th đưa cho T các giấy tờ như trên của bà Th mua bán đất với bà M và 01 giấy viết tay mua bán giữa bà Th với T.

Ngày 23/3/2011, T bán lại lô đất đã mua của bà Th cho chị Nguyễn Thị N với giá 720.000.000đ và cam kết có trách nhiệm làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho chị N, hai bên có viết giấy mua bán đất. Đến cuối năm 2012, khu K, phường V tổ chức bốc thăm lô đất tại dự án đất dân cư dịch vụ K - Đ, chị N nộp tiền cơ sở hạ tầng đợt 1 cho địa phương là 50.000.000đ và gắp được lô đất số 66, diện tích 68m2.

Vào năm 2013, mặc dù T đã bán đất cho chị N, nhưng do đã hứa làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho chị N, nên khi thấy bà M thường xuyên đau ốm, T đã báo với khu K và Hội đồng tư vấn xét đất của UBND phường V đổi tên người đứng tên lô đất từ bà M sang tên anh Chu Văn T3 và chị Trương Thị H (trước đó do có mua bán đất dân cư dịch vụ nên T đã nhờ anh T3, chị H ký sẵn hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trống bên nhận ủy quyền và bên nhận chuyển nhượng).

Ngày 04/10/2013, do không có nhu cầu sử dụng chị N đã chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất số 66 cho anh Trịnh Quốc T1 với giá 460.000.000đ. Khi bán chị N có viết tay giấy mua bán và giao toàn bộ giấy tờ của lô đất số 66 cho anh T1. Đồng thời, chị N nói với anh T1 khi nào cần làm GCNQSDĐ thì đến gặp T, vì T đã cam kết giúp làm GCNQSDĐ lô đất 66 nói trên. Đến đầu tháng 01/2015, anh T1 gọi điện nhờ T giúp làm GCNQSDĐ đối với lô đất 66 cho anh T1, T đồng ý. Ngày 10/01/2015, sau khi kiểm tra thấy lô đất số 66 chưa nộp tiền cơ sở hạ tầng lần 2, T gọi điện thoại và bảo anh T1 đến UBND phường V nộp tiền cơ sở hạ tầng đợt 2 để làm GCNQSDĐ. Sau đó, anh T1 đến phòng làm việc của T tại UBND phường V để nộp tiền cơ sở hạ tầng lần 2 là 28.200.000đ. T tự lấy từ ngăn kéo bàn làm việc của chị Nguyễn Thị H2 là thủ quỹ của UBND phường V phiếu thu tiền có đóng dấu treo của UBND phường V. Khi thu tiền T nói với anh T1 là T không có nhiệm vụ thu tiền cơ sở hạ tầng, chỉ thu hộ thủ quỹ. Anh T1 đồng ý giao tiền và T đưa lại phiếu thu tiền cho anh T1. Do lúc đó đúng vào dịp tết Nguyên đán, nên T chưa nộp tiền ngay cho chị H2 mà giữ lại số 28.200.000đ để khi nào làm GCNQSDĐ sẽ nộp sau. Cũng tại ngày thu tiền cơ sở hạ tầng lần 2, T nói với anh T1 là lô đất này đã báo với Ban chia đất của khu K và Hội đồng tư vấn xét đất của UBND phường V đổi tên người đứng tên lô đất từ bà M sang tên anh Chu Văn T3 và chị Trương Thị H, anh T1 không có ý kiến gì. Ngày 22/01/2015, do có chủ trương làm sổ đỏ cho các lô đất trong dự án, T đã bảo anh T1 mang giấy tờ liên quan đến thửa đất số 66 giao cho T để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho anh T1. Anh T1 đã đem giấy tờ của lô đất số 66 giao cho T. Do đã đổi tên người đứng tên lô đất, nên anh T1 chỉ đưa cho T gồm: phiếu gắp lô thửa đất số 66 và 02 phiếu thu tiền lần 1 là 50.000.000đ, lần 2 là 28.200.000đ mà không đưa các giấy tờ liên quan đến bà M. T đã viết giấy nhận các giấy tờ của lô đất số 66 đưa lại cho anh T1. Sau khi nhận hồ sơ đất của anh T1, T không đi làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ lô đất số 66 cho anh T1 như đã hứa mà cất tại phòng làm việc của T.

Đến tháng 4/2015, do T nợ anh Diêm Văn P số tiền khoảng hơn 300.000.000đ và có ý định vay thêm tiền của anh P để làm ăn. Nên T đã nảy sinh ý định mang toàn bộ giấy tờ của lô đất số 66 cầm cố cho anh P để trả nợ và vay thêm tiền. Sau đó, T đã mang toàn bộ giấy tờ quyền sở hữu thửa đất số 66 gồm: phiếu gặp lô thửa đất số 66; 01 phiếu thu tiền cơ sở hạ tầng lần 1 là 50.000.000đ; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và 01 hợp đồng ủy quyền chỉ có chữ ký của anh T3, chị H còn để trống nội dung và bên nhận chuyển nhượng, bên nhận ủy quyền cầm cố cho anh P dưới hình thức viết giấy mua bán đất với giá 784.000.000đ. T và anh P đã thỏa thuận sẽ đối trừ khoản nợ, tiền lãi trong 3 tháng và số tiền anh P đi đóng hộ giúp T tiền cơ sở hạ tầng lần 2 là 28.200.000đ (mà T đã thu của anh T1 chưa nộp). Sau khi đối trừ, T được lấy về khoảng hơn 300.000.000đ. Đồng thời T và anh P có thỏa thuận trong vòng 3 tháng T được chuộc lại lô đất, nếu T không chuộc lại thì anh P được toàn quyền sử dụng lô đất và anh P có trách nhiệm đi làm thủ tục đề nghị cấp GCNQSDĐ, khi đi làm thủ tục anh P sẽ nộp hộ T số tiền cơ sở hạ tầng lần 2 là 28.200.000đ.

Ngày 22/7/2015, để làm GCNQSDĐ cho lô đất số 66 đã mua của T, anh P đã tự làm 01 Giấy ủy quyền có nội dung là anh T3, chị H ủy quyền cho anh P để nhận biên bản bàn giao đất, làm GCNQSDĐ và nộp các loại tiền do Nhà nước quy định có chữ ký sẵn của vợ chồng anh T3, chị H đến nhờ T xin xác nhận của UBND phường V, T đã xin xác nhận của UBND phường vào Giấy ủy quyền cho anh P. Sau đó, anh P đã làm Đơn xin cấp GCNQSDĐ mang tên anh Chu Văn T3 và chị Trương Thị H. Ngày 20/8/2015, UBND thành phố B đã cấp GCNQSDĐ số CB cho lô đất dân cư dịch vụ số 6 có số thửa là 21, tờ bản đồ 10, diện tích 68m2 mang tên anh Chu Văn T3 và chị Trương Thị H. Ngày 21/8/2015, anh P đã đến Văn phòng công chứng H tại huyện Y, tỉnh Bắc Ninh làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất số 66 từ anh T3, chị H sang tên anh P và vợ là chị Nguyễn Thị H2. Đến ngày 31/8/2015, UBND thành phố B đã chuyển quyền sử dụng đất từ anh T3, chị H sang anh P, chị H2. Sau đó ngày 20/10/2016, do không có nhu cầu sử dụng, anh P đã bán lô đất nói trên cho ông Nguyễn Trọng M, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1956, cùng trú tại phường V, thành phố B với giá 1.350.000.000đ. Ngày 26/10/2016, UBND thành phố B đã chuyển quyền sử dụng đất từ anh P, chị H sang ông M, bà N1.

Sau khi anh T1 đưa các giấy tờ của lô đất số 66 cho T, anh T1 đã nhiều lần điện thoại thúc giục T làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, thì T đều nói là chưa làm được. Khoảng tháng 5/2016, anh T1 đi tìm hiểu và biết việc T đã bán lô đất trên cho anh P. Nên anh T1 đã nhiều lần yêu cầu T trả lại đất và trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 đến ngày 25/9/2016, T đã nhiều lần viết giấy cam kết với anh T1 có nội dung T sẽ chuộc lại lô đất số 66 trả cho anh T1, hoặc trả anh T1 lô đất khác có giá trị tương đương, nếu không trả được đất thì T trả cho anh T1 số tiền 1.200.000.000đ. Nhưng hết thời hạn, do T không thực hiện được như cam kết, nên ngày 18/10/2016, anh T1 đã làm đơn trình báo hành vi phạm tội của T đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh. Đến ngày 30/11/2016, T tự nguyện giao nộp cho CQĐT số tiền 200.000.000đ để khắc phục hậu quả cho anh T1.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 457/KL-HĐ ngày 14/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: 01 lô đất thửa đất số 21, tờ bản đồ số 10 tại phường V, thành phố B, diện tích 68m2 (ghi chú lô 66 đất dân cư dịch vụ K) thời điểm từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2015 có giá 680.000.000đ.

Đến ngày 21/7/2017, ông Nguyễn Thành C đã tự nguyện giao nộp cho CQĐT số tiền 1.000.000.000đ. Trong đó để bồi thường khắc phục hậu quả cho anh T1 số tiền bị chiếm đoạt còn lại là 480.000.000đ, còn lại 520.000,000đ là tiền sự nguyện hỗ trợ thêm cho anh T1 theo như cam kết của T. Ngày 27/7/2017, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh đã trả lại cho anh T1 số tiền 1.200.000.000đ. Anh T1 không có đề nghị bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2018/HSST ngày 12/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tuyên phạt bị cáo T 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 BLHS. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Quá trình TAND tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án, T và gia đình cung cấp 01 hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 08/10/2016 có nội dung anh T1 và vợ là chị Nguyễn Thị Đ chuyển nhượng lô đất số 66 với giá là: 1.500.000.000đ cho T và phương thức thanh toán hôm nay trả 300.000.000đ. Hợp đồng này có chữ ký nháy của anh T1, chị Đ ở góc cuối các tờ từ số 01 đến số 03, còn tờ 04 hợp đồng T khai làm thất lạc mất. Theo T khai do bị anh T1 đòi trả đất nhiều lần, để tránh việc anh T1 kiện, nên T đã thỏa thuận với anh T1 mua lại lô đất như trên và T đã giao trước cho anh T1 số tiền 300.000.000đ, nhưng do T chưa trả anh T1 số tiền còn lại là 1.200.000.000đ, nên anh T1 đã tố cáo T. Còn anh T1, chị Đ khai: Không có việc anh T1, chị Đ thỏa thuận bán lại lô đất số 66 cho T và nhận của T 300.000.000đ, việc anh T1, chị Đ ký nháy vào hợp đồng ngày 08/10/2016 là do T nói sẽ chuộc lại lô đất số 66 đã bán cho anh P và làm thủ tục chuyển nhượng lại cho anh T1. Ngoài ra, gia đình T còn xuất trình một số giấy tờ liên quan đến nộp tiền bồi thường trong quá trình điều tra vụ án. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 30/2018/HS-PT ngày 02/7/2018 của TAND tỉnh Bắc Ninh đã hủy Bản án sơ thẩm của TAND thành phố Bắc Ninh để điều tra, xét xử lại do vi phạm về xác định số tiền T chiếm đoạt liên quan đến khung khoản truy tố, điều tra tính xác thực của hợp đồng ngày 08/10/2016 T mới xuất trình và một số vấn đề khác.

Tại phiên toà sơ thẩm của TAND tỉnh Bắc Ninh ngày 10/01/2019, anh T1, chị Đ đề nghị định giá lại lô đất với lý do tại thời điểm xảy ra vụ án trị giá lô đất T chiếm đoạt của vợ chồng anh khoảng hơn 01 tỷ. Nhưng vì bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường 1.200.000.000đ và muốn giảm nhẹ tội cho T nên mặc dù Hội đồng định giá của UBND thành phố kết luận lô đất trị giá 680.000.000đ vợ chồng anh cũng đồng ý. HĐXX đã trả hồ sơ để yêu cầu định giá lại tài sản. Tại Bản kết luận định giá số 110/KL- HĐ ngày 01/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Thửa đất số 21, tờ bản đồ 10 tại phường V, thành phố B, diện tích 66m2 (trước đây là lô 66 đất dân cư dịch vụ K) thời điểm từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015 có giá 703.666.000đ”.

Tại Bản Cáo trạng số 08/CTr-VKSBN-P3 ngày 12/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và lời khai đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm ngày 10/01/2019. Theo bị cáo kết quả định giá lại lô đất hơn 700 triệu là hơi cao, tuy nhiên bị cáo cũng không có ý kiến gì. Hợp đồng ngày 08/10/2016 giữa bị cáo và vợ chồng anh T1 là có thật và bị cáo đã trả vợ chồng anh T1 được 300 triệu. Như vậy, bị cáo và gia đình đã nộp tiền bồi thường tổng cộng 1.200.000.000đ + 300 triệu (bị cáo trả ngày 08/10/2016) = 1.500.000.000đ, đề nghị trừ đi cho bị cáo khoản bị cáo phải

bồi thường là hơn 700 triệu (theo kết quả định giá lại), phần tiền còn lại yêu cầu vợ chồng anh T1 trả lại gia đình bị cáo.

Anh T1, chị Đ trình bày: Vợ chồng anh giữ nguyên lời khai tại phiên tòa 10/01/2019 và bổ sung thêm về kết quả định giá lại vợ chồng anh không có ý kiến gì. Về lời khai của bị cáo trả cho vợ chồng anh 300 triệu theo hợp đồng 08/10/2016 là không đúng. Do tin tưởng vào lời hứa hẹn của bị cáo sẽ lấy lại lô đất từ anh P để trả cho vợ chồng anh, muốn vậy vợ chồng anh phải ký vào hợp đồng chuyển nhượng nên vợ chồng anh có ký nháy vào các trang của Hợp đồng khống và trang thứ 4 vợ chồng anh ký vào bên nhận chuyển nhượng. Phần chữ viết là do T tự điền vào sau. Nhưng sau đó T cũng không thực hiện, do vậy ngày 18/10/2016 anh đã tố cáo đến CQĐT; ngày 22/12/2016 UBND Phường đã có kết luận giải quyết tố cáo của vợ chồng anh. T nhiều lần viết cam kết trả anh bằng lô đất khác trị giá tương đương hoặc bằng tiền là 1,2 tỷ đồng, quá trình điều tra T và gia đình đã bồi thường cho vợ chồng anh 1,2 - 1,3 tỷ. Nếu T yêu cầu vợ chồng anh trả lại số tiền chênh lệch thì vợ chồng anh đề nghị T phải trả lại lô đất 66 cho vợ chồng anh và đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Chị G trình bày: Gia đình chị có nộp bồi thường tại CQĐT tổng cộng là 1.200.000.000đ bằng 02 giấy, 01 giấy 480 triệu và 01 giấy 520 triệu. Hai giấy này do CQĐT hướng dẫn gia đình chị viết, gia đình chị chưa bao giờ gặp để thỏa thuận bồi thường với vợ chồng anh T1, nên chị chỉ nhất trí bồi thường cho vợ chồng anh T1 trị giá lô đất theo định giá lại là hơn 700 triệu, phần tiền còn lại đề nghị anh T1 trả lại cho gia đình chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 07 đến 09 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường hiệt hại cho bị hại 1,2 tỷ đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bị cáo và gia đình yêu cầu vợ chồng anh T1 phải trả lại số tiền thừa.

Bị cáo T tham gia tranh luận: Về tội danh bị cáo không có ý kiến gì chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, không đồng ý với ý kiến của VKS, đề nghị trả lại tiền thừa cho gia đình bị cáo.

Các Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Đồng ý với tội danh VKS truy tố, tuy nhiên anh P có hành vi gian dối làm hợp đồng chuyển nhượng từ anh T3, chị H sang anh P là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; Văn phòng công chứng H công chứng không đúng quy định không bị xử lý. CQĐT tạm giữ 1.680.000.000đ của bị cáo và gia đình bị cáo (03 biên bản) nhưng chỉ xử lý trả bị hại 1.200.000.000đ là không đúng; có dấu hiệu tội phạm. Về hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/10/2016 giữa bị hại và bị cáo mà bị cáo xuất trình là có cơ sở, đề nghị HĐXX công nhận khoản 300.000.000đ bị cáo đã trả cho bị hại theo hợp đồng. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt thấp cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đồng ý với ý kiến của VKS. Bị cáo không tác động gia đình bồi thường mà do CQĐT yêu cầu gia đình bị cáo phải nộp bồi thường thay. Quá trình điều tra chưa bao giờ bị hại và gia đình bị cáo thoả thuận bồi thường do vậy đề nghị buộc bị hại phải trả lại cho gia đình bị cáo phần tiền thừa còn lại. Bị cáo T nhất trí với ý kiến bào chữa của Luật sư.

Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị hại phát biểu ý kiến: Về tội danh nhất trí với Cáo trạng truy tố. Lô đất của vợ chồng anh T1 đã bị anh P chuyển giao bất hợp pháp, đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung xem xét việc UBND thành phố B cấp GCNQSDĐ cho anh T3 chị H; xem xét trách nhiệm của phòng công chứng H. Về trách nhiệm dân sự: Không có căn cứ anh T1 chị Đ chuyển nhượng lô đất 66 cho T ngày 08/10/2016 để nhận 300 triệu. Bị cáo khai báo còn quanh co nên VKS cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo là không phù hợp. Về số tiền 1,2 tỷ đồng CQĐT trả cho vợ chồng anh T1, tại phiên toà phúc thẩm, chị G không có ý kiến gì về vấn đề này nên không có căn cứ buộc bị hại trả lại. Tuy nhiên Luật sư vẫn đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung. Bị hại nhất trí với ý kiến của Luật sư, không bổ sung gì thêm.

Bị cáo T tham gia tranh luận với Luật sư của bị hại: Bị cáo đã rất thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và nộp bồi thường, Luật sư bị hại cho rằng bị cáo không thành khẩn là không đúng. Chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Đại diện VKS đối đáp: Không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh P và huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho anh M, những sai sót trong việc cấp GCNQSDĐ VKS đã có kiến nghị. Đối với Văn phòng công chứng H VKS sẽ có văn bản kiến nghị xem xét. Đối với số tiền nộp bồi thường đã được điều tra làm rõ bị cáo và gia đình chỉ nộp 1,2 tỷ đồng, trong đó 680 triệu đồng bồi thường và 520 triệu đồng hỗ trợ cho bị hại. Vì vậy VKS giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/01/2015 Nguyễn Xuân T có nhận giấy tờ lô đất số 66 của anh T1 tại khu dự án K - Đ để giúp anh T1 làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do nợ tiền anh P và cần tiền để chi tiêu cá nhân, tháng 4/2015 T đã cầm cố giấy tờ lô đất 66 của anh T1 dưới hình thức bán cho anh P lấy 784.000.000đ. Theo kết luận định giá lại, giá trị lô đất thời điểm từ tháng 1 đến 5/2015 có giá là 703.666.000đ. Do vậy có đủ căn cứ xét xử bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và các Luật sư đề nghị xem xét hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 08/10/2016 giữa bị cáo và vợ chồng anh T1, trong đó T đã trả cho anh T1 300 triệu đồng. HĐXX xét thấy: T không cung cấp được giấy nhận số tiền 300.000.000đ của anh T1; tờ số 04 của hợp đồng T khai đã làm mất nên không xác định được việc anh T1, chị Đ ký tên vào bên nhận chuyển nhượng hay bên chuyển nhượng. Quá trình điều tra vụ án, T có nhiều bản cam kết trước khi có hợp đồng ngày 08/10/2016, với nội dung cam kết sẽ trả cho anh T1 số tiền 1.200.000.000đ mà không có tài liệu nào thể hiện anh T1 thỏa thuận nhận số tiền 1.500.000.000đ. Mặt khác tại Bản kết luận nội dung tố cáo Số 02 ngày 22/12/2016, của UBND phường V đã nêu rõ T đã thừa nhận việc tố cáo của anh T1 là đúng sự thật và sẽ có trách nhiệm trả lại lô đất bằng tiền mặt theo giá thị trường hiện tại. Đối với số tiền nộp bồi thường đã được làm rõ bị cáo và gia đình bị cáo nộp cho CQĐT tổng số là 1,2 tỷ đồng, bị cáo và chị G đều thừa nhận. CQĐT trả cho anh T1 1,2 tỷ đồng. Do vậy ý kiến của bị cáo và các Luật sư không được chấp nhận.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chiếm đoạt số tiền tương đối lớn của người bị hại, bản thân bị cáo là cán bộ, Đảng viên nhưng lại thực hiện hành vi trái pháp luật để lấy tiền phục vụ cá nhân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; quá trình công tác bị cáo được tặng Bằng khen, Giấy khen và có công giúp công an phát hiện bắt giữ đối tượng có hành vi tàng trữ ma túy;

Bố bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

Đối với anh Diêm Văn P và anh Nguyễn Trọng M đã mua lô đất số 66 nhưng không biết do T phạm tội mà có nên CQĐT, VKS không đề cập xử lý là phù hợp. Đối với một số vi phạm trong thủ tục hành chính của anh P và UBND phường V khi lập hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ và thủ tục chuyển nhượng CQĐT đã có văn bản kiến nghị. Đối với Văn phòng công chứng H, VKS sẽ tiếp tục có văn bản kiến nghị là phù hợp.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Theo kết quả định giá lại, bị cáo chiếm đoạt lô đất của bị hại trị giá là 703.666.000đ. Quá trình điều tra bị cáo và gia đình đã tự nguyện nộp bồi thường 1,2 tỷ đồng, CQĐT đã trả cho bị hại. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và gia đình đều yêu cầu bị hại trả lại tiền nộp thừa. HĐXX nhận thấy, quá trình điều tra mặc dù giữa bị hại và bị cáo không trực tiếp thỏa thuận bồi thường, tuy nhiên đại diện gia đình bị cáo là ông C (bố bị cáo) đã tự nguyện nộp 01 tỷ chia làm hai khoản, khoản 480 triệu đồng bồi thường và khoản 520 triệu đồng hỗ trợ bị hại (BL 403, 404, 409 tập 2). Mặt khác, khoản tiền này cũng phù hợp với những giấy cam kết bồi thường cho bị hại của bị cáo T, tại phiên tòa sơ thẩm của TAND thành phố và phiên tòa phúc thẩm của TAND tỉnh Bắc Ninh, bị cáo và đại diện gia đình bị cáo đều nhất trí bồi thường toàn bộ cho bị hại. Do vậy không có căn cứ buộc bị hại phải trả lại gia đình bị cáo số tiền chênh lệch là 496.334.000đ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2018 được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 22/5/2017 đến ngày 03/8/2017. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải bồi thường thiệt hại cho anh Trịnh Quốc T1 và chị Nguyễn Thị Đ 1.200.000.000 đồng (Xác nhận anh T1, chị Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường 1.200.000.000 đồng).

Bác yêu cầu của bị cáo Nguyễn Xuân T và gia đình ông Nguyễn Thành C, chị Nguyễn Thị Hương G yêu cầu anh T1, chị Đ phải trả lại 496.334.000 đồng.

3. Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


41
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 06/2019/HS-ST ngày 07/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    Số hiệu:06/2019/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:07/03/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về