Bản án 06/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 06/2019/HS-ST NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Lê Văn H; sinh năm: 1988 tại tỉnh Sóc Trăng; Thường trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Lê Thị Mỹ H; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân:

+ Ngày 22/11/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 93/2011/HSST). Đến ngày 21/11/2013, chấp hành xong hình phạt tù và thi hành án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm ngày 07/3/2012.

+ Ngày 11/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 35/2014/HSST). Đến ngày 29/4/2015, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2018; (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc N; sinh năm: 1964;

Địa chỉ: 273 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Đoàn Duy D; sinh năm: 1982;

Địa chỉ: 309 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Nguyễn Thị Ngọc N thuê phòng số 203 tại khách sạn “T.4”, địa chỉ 273 đường B, phường B, quận B để ở từ năm 2013 và Lê Văn H làm thuê tại khách sạn trên từ tháng 11/2017. Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 11/8/2018, chị N khóa cửa phòng 203 đi đám cưới ở quận G. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, H nhìn thấy chị N đã đi ra khỏi phòng nên nảy sinh ý định đột nhập vào phòng của chị N lấy trộm tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. H lấy một chiếc ghế cao khoảng 01 mét để ở hành lang đem vào phòng 202 (phòng không có khách thuê trọ) đặt sát tường chung giữa phòng 202 và 203 rồi trèo tường đột nhập vào phòng 203 của chị N. Sau khi đột nhập vào phòng 203, H lấy trộm 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu xám để trên gối sát tường và số tiền 2.000.000 đồng trong hộc tủ bàn nhựa rồi leo lên trở ra bằng đường cũ. Sau đó, H đem bán máy tính bảng cho cửa hàng điện thoại AT tại số 309 đường B, phường B do anh Trần Đoàn Duy D làm chủ với giá 2.000.000 đồng, rồi dùng số tiền trên chuộc lại chiếc điện thoại di động hiệu Oppo của H đem cầm trước đó và đưa 1.700.000 đồng cho bạn gái tên Trần Thị Bé Linh T sử dụng, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, chị N quay trở về phòng và tìm máy tính bảng hiệu Samsung màu xám để sử dụng nhưng không thấy. Lúc này, chị N nhìn thấy tấm la phông gần cửa ra vào bị hở và dưới nền nhà có các mảnh vụn xi măng nên chị N kiểm tra tài sản trong phòng, phát hiện bị mất 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu xám và số tiền 2.000.000 đồng Việt Nam. Sau đó, chị N báo với anh Lê Văn T, chủ nhà trọ biết và nghi ngờ nhân viên dọn dẹp vệ sinh của khách sạn tên Lê Văn H lấy trộm. Ngày 12/8/2018, chị N đến Công an phường Bình Hưng Hòa A trình báo sự việc.

Đến ngày 14/8/2018, Công an phường chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân thụ lý theo thẩm quyền. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra Công an quận Bình Tân, H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 1022/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Tân xác định: 01 chiếc máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A đã qua sử dụng có trị giá là 2.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 28/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đồng ý với kết luận định giá tài sản và khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo.

Kiểm sát viên – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173; Điểm h Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị Hội đồng xét xét giành cho anh D quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 2.000.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ trong vụ án: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa hình ảnh liên quan đến vụ án. Trả lại cho bị cáo H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát quận Bình Tân và nói lời sau cùng có nội dung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, tội danh và các quyết định tố tụng:

Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn H tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 11/8/2018, tại khách sạn T.4, địa chỉ 273 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Văn H đã có hành vi lén lút trèo từ phòng 202 qua phòng 203 khách sạn T.4 để trộm cắp tài sản là 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu xám có trị giá là 2.500.000 đồng (để trên gối sát tường) và số tiền 2.000.000 đồng (trong hộc tủ bàn nhựa) của chị Nguyễn Thị Ngọc N khi tài sản đang không có người trông coi.

Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn H đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 theo Bộ luật hình sự năm 2015.

Do đó, Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Kết luận điều tra của Công an quận Bình Tân là có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục luật định. Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố bị cáo Lê Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định và ý kiến phát biểu tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đánh giá nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp cố ý phạm tội, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội, bị cáo từng nhiều lần bị xử phạt hình phạt tù về tội "Trộm cắp tài sản" nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo có thái độ tích cực khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt cũng đã được thu hồi và đã được trả lại cho bị hại, bị hại cũng không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác và viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H nên cần áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm thu lợi bất chính, tuy nhiên xét bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Trần Đoàn Duy D được quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A do bị can Lê Văn H lấy trộm của chị Nguyễn Thị Ngọc N. Công an phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân đã trả cho chị N nên ghi nhận.

- 01 (một) USB màu xanh chứa dữ liệu liên quan đến vụ trộm cắp tài sản, cần tịch thu và lưu trong hồ sơ vụ án.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng là tài sản riêng của bị cáo, xét cần trả lại cho bị cáo.

- Thu của chị Trần Thị Bé Linh T: Số tiền 1.700.000 đồng mà bị can H đưa cho chị Thảo. Công an phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân đã trả tiền cho chị N theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015,

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 10 năm 2018.

2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Trả lại cho bị cáo Lê Văn H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, số Imel

1: 865857039438890, Imel 2: 865257039438882.

(Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ vật chứng trên theo phiếu nhập kho vật chứng số NK19/057TAM ngày 04/01/2019).

Tịch thu và lưu trong hồ sơ vụ án: 01 (một) USB màu xanh chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.

3/ Ông Trần Đoàn Duy D được quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật

4/ Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HS-ST ngày 23/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:06/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Tân - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về