Bản án 06/2019/HS-ST ngày 30/01/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 06/2019/HS-ST NGÀY 30/01/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Đặng Anh K, tên gọi khác: T, sinh năm 1987, tại huyện Gò Dầu, tỉnhTây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú hiện nay: ấp X, xã TP, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (đã chết) và bà Lê Thị Đ sinh năm 1957; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-10-2018 đến ngày 16-10-2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nới cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Trọng B, tên gọi khác: Nam, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú hiện nay: khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; có vợ: Võ Ngọc T1, sinh năm 1992 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15-10-2018 đến ngày 24-10-2018, bị tạm giam từ ngày 24-10-2018 đến ngày 27-12-2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho B lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lý Thanh S, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp X, xã TP, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi tổ chức uống bia tại khu vực cầu Gò Dầu, khoảng 02 giờ ngày 07/10/2018, bị cáo Trần Trọng B điều khiển xe mô tô biển số: 70F1-379.47 chở bị cáo Đặng Anh K về nhà. Trên đường về nhà, bị cáo K kể cho bị cáo B biết việc anh Lý Thanh S không chia tiền lời từ việc quản lý kinh doanh máy bắn cá và rủ bị cáo B đến nhà anh S đòi tiền nếu không đòi được sẽ dùng dao chém anh S thì bị cáo B đồng ý. Về đến nhà, bị cáo K lấy 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ và điều khiển xe mô tô biển số: 70F1-379.47 chở bị cáo B đến nhà anh S thuộc ấp Xóm Mới 2, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. 02 bị cáo K và B mỗi người cầm 01 con dao đi vào nhà anh S kêu cửa, anh S mở cửa ra thì bị cáo B cầm dao dài 43 cm, lưỡi bằng kim loại dài 32 cm, cán bằng gỗ dài 11 cm chém 01 cái trúng vùng tai phải của anh S gây thương tích. Sau đó, các bị cáo bỏ về nhà, anh S được gia đình đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu, điều trị đến ngày 17/10/2018 xuất viện. Ngày 07/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo Đặng Anh K. Ngày 15/10/2018, bị cáo Trần Trọng B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyệnGò Dầu, tỉnh Tây Ninh đầu thú.

Qua điều tra, bị cáo Đặng Anh K và bị cáo Trần Trọng B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 212/2018/TgT ngày 15/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh xác định anh Lý Thanh S bị thương tích 15%.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số: 70F1-379.47; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 70F1-379.47 mang tên Đặng Anh K; 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán gỗ đã chuyển S Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: 02 bị cáo Đặng Anh K và Trần Trọng B đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lý Thanh S tổng cộng 67.000.000 đồng. Anh S không yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với 02 bị cáo.

Đối với hành vi đánh bạc thông qua hình thức máy bắn cá của Đặng Anh K, Lý Thanh S, Lê Thanh P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSGD ngày 27-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Đặng Anh K và bị cáo Trần Trọng B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5- 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xử phạt bị cáo Đặng Anh K và bị cáo Trần Trọng B mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán gỗ; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số: 70F1-379.47 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 70F1-379.47 mang tên Đặng Anh K. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Ghi nhận bị hại đã nhận 67.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo K và bị cáo B xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ ngày 10/7/2018, bị cáo Đặng Anh K kể cho bị cáo Trần Trọng B biết việc anh Lý Thanh S không chia tiền lời từ việc quản lý kinh doanh máy bắn cá và rủ bị cáo B đến nhà anh S đòi tiền nếu không đòi được sẽ dùng dao chém anh S thì bị cáo B đồng ý. Bị cáo K lấy 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ tại nhà và điều khiển xe mô tô biển số: 70F1-379.47 chở bị cáo B đến nhà anh S thuộc ấp Xóm Mới 2, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. 02 bị cáo mỗi người cầm 01 con dao đi vào nhà anh S kêu cửa, anh S mở cửa ra thì bị cáo B cầm dao dài 43 cm, lưỡi bằng kim loại dài 32 cm, cán bằng gỗ dài 11 cm chém 01 cái trúng vùng tai phải của anh S gây thương tích 15%. Do đó, hành vi của 02 bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

 [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được luật pháp B vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương; Cần có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo để có tác dụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo K đã rủ rê bị cáo B đánh bị hại S và chuẩn bị công cụ phạm tội, nên chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo B.

 [4] Khi quyết định hình phạt, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại; bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo B đã đầu thú. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo thành công dân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Qua điều tra, các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

 [5] Vật chứng thu giữ: 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán gỗ, không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy; 01 xe mô tô biển số: 70F1-379.47; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 70F1-379.47 mang tên Đặng Anh K là phương tiện phạm tội, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước, phù hợp với quy định tại các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 [6] Về bồi thường thiệt hại: bị hại đã nhận 67.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm nên ghi nhận.

 [7] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phíhình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2Điều 51, Điều 65 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Đặng Anh K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục bị cáo Đặng Anh K trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Xử phạt bị cáo Trần Trọng B 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ủy ban nhân dân thị trán G, huyện G, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục bị cáo Đặng Anh K trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao lưỡi bằng kim loại, cán gỗ; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số: 70F1-379.47, màu đen, số khung FC30FY146751, số máy: 1FC3146754, dung tích 113 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 70F1-379.47 mang tên Đặng Anh K.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự;

Ghi nhận bị hại đã nhận 67.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm.

3. Án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Đặng Anh K, Trần Trọng B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


13
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về