Bản án 07/2007/KDTM-ST ngày 25/01/2007 về tranh chấp hợp đồng xây dựng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 07/2007/KDTM-ST NGÀY 25/01/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Trong các ngày 24, 25.01.2007, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2006/TLST-KDTM ngày 21.6.2006 về Tranh chấp Hợp đồng xây dựng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/KDTM/QĐXX-ST ngày 11.01.2007 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Cầm Thắng

Trụ sở: 68 đường Nguyên Hồng, Đống Đa, Hà Nội

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Nguyễn Xuân Điệp - Cán bộ kỹ thuật công ty.

Theo giấy uỷ quyền ngày 01.3.2006 của Giám đốc Công ty - Ông Nguyễn Quyết Thắng.

Ông Điệp có mặt tại phiên toà

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

1. Luật sư Phan Tùng Lâm - Đoàn luật sư Hà Nội

2. Luật sư Lê Ngọc Hằng - Đoàn luật sư Quảng Ninh

Các luật sư có mặt

Bị đơn: Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng.

Trụ sở: Đình Thôn, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội.

Người đại diện hợp của bị đơn:

Ông Đặng Quang Đạt - Giám đốc Công ty

Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG

Trụ sở: Lô 46 Khu công nghiệp Nội Bài, Sóc Sơn, Hà Nội

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Hwang Won Joo - Giám đốc Công ty có đơn đề nghị xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn Công ty TNHH Cầm Thắng trình bày:

Ngày 15.7.2005, nguyên đơn có ký với bị đơn Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng, hợp đồng giao khoán xây lắp công trình số 12/HĐKT-XL về việc bị đơn thi công "nhánh rẽ đường dây và trạm biến áp" tại lô 46 khu công nghiệp Nội Bài Sóc Sơn của Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG mà nguyên đơn đã trúng thầu. Trị giá hợp đồng là 275.000.000đ là bao gồm VAT. Do bị đơn vi phạm hợp đồng, chậm tiến độ, không hoàn thành công trình nên nay nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng thi công còn thừa 150.000.000đồng trừ đi 12.476.000đồng là 137.524.000đồng.

Ngoài ra bị đơn còn phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 5% trị giá hợp đồng số tiền 13.750.000đồng. Bị đơn chịu lãi chậm trả của số tiền 150triệu đồng nguyên đơn đã ứng từ 01.11.2005 đến 31.12.2006 với lãi suất 1%/tháng với số tiền 21.000.000đ. Cộng hai khoản phạt là 34.750.000đồng.

Phía bị đơn trình bầy: Bị đơn đã thi công xong khối lượng công việc có trị giá 150triệu, như hoá đơn số 8310 ngày 16.11.2005 bị đơn đã cấp cho nguyên đơn. Nguyên đơn đã nhận hoá đơn và không có ý kiến gì. Khối lượng thi công của bị đơn đã được chủ đầu tư ký nghiệm thu với nguyên đơn, bị đơn không được tham gia. Như vậy khối lượng công việc bị đơn đã thực hiện theo hợp đồng với nguyên đơn đúng bằng số tiền nguyên đơn đã tạm ứng.

Bị đơn rút khỏi công trình của nguyên đơn từ ngày 26.10.2005 vì không được vào thi công tiếp.

Người có liên quan là công ty TNHH KWANG YANG trình bầy: Công ty có hợp đồng giá thầu với nguyên đơn có tổng trị giá 1.547.000.000đồng, trong đó có hạng mục "Nhánh rẽ đường dây và trạm biến áp". Hạng mục này nguyên đơn thuê nhà thầu phụ làm. Đến ngày 27.10.2005 Công ty và nguyên đơn ký "biên bản thoả thuận chấm dứt hợp đồng" thi công trạm biến áp.

Công ty đã thanh toán cho nguyên đơn khối lượng xây lắp trị giá 1.282.000.000đồng.

Nay nguyên đơn có tranh chấp với nhà thầu phụ bị đơn về hợp đồng thi công trạm biến áp, công ty đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có sự thay đổi về số tiền yêu cầu so với quá trình Toà án giải quyết vụ kiện. Cụ thể:

- Nguyên đơn giữ các quan điểm sau: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định trong hợp đồng về việc ứng vốn thi công 150.000.000đồng cho bị đơn. Sở dĩ ngày 28.10.2005, nguyên đơn ứng nốt 100.000.000đồng vì sau đó bị đơn cam kết (không có văn bản) sẽ hoàn thành nốt công việc trong khoảng 10 ngày nữa.

Bị đơn vi phạm tiến độ đã cam kết và tự ý bỏ dở công trình. Khi thi công không đúng yêu cầu kỹ thuật và hồ sơ thiết kế. Không cung cấp hồ sơ thiết kế, các loại giấy phép trả nguyên đơn để làm tài liệu theo dõi công trình. Do đó sau khi bỏ công trình với nguyên đơn, bị đơn vẫn tiếp tục dùng tài liệu đó để thi công cho chủ đầu tư của nguyên đơn.

Các tài liệu bị đơn đưa đã không đủ căn cứ pháp lý xác định khối lượng họ đã thi công là 150.000.000đồng.

- Quan điểm thay đổi của nguyên đơn:

Giá trị 25.000.000đồng mà chủ đầu tư tính cho nguyên đơn trong bản thoả thuận chấm dứt hợp đồng, chỉ là tạm ứng và là phần hỗ trợ cho nguyên đơn trong hợp đồng của nguyên đơn với chủ đầu tư. Do đó nay nguyên đơn không đồng ý xác định bị đơn đã thi công được khối lượng có trị giá 25.000.000đồng. Theo đó bị đơn phải hoàn lại nguyên đơn toàn bộ số tiền đã tạm ứng là 150.000.000đồng.

Nguyên đơn rút lại ý kiến trừ các chi phí thiết kế, thẩm định thiết kế, lệ phí cấp các loại giấy phép với tổng số tiền 4.876.000đồng vì nay bị đơn không thiện chí. Hơn nữa bị đơn chưa có chứng từ về các chi phí này và đến nay, nguyên đơn cũng không thể sử dụng được thiết kế cũng như toàn bộ hồ sơ này vào công trình nào khác và thực tế, nguyên đơn cũng không được bị đơn trả lại hồ sơ theo hợp đồng.

- Nguyên đơn đề nghị Toà án buộc bị đơn phải chịu lãi theo mức 1,1%/tháng của 150.000.000đồng là 16.995.000đồng cùng phạt 5% như đã yêu cầu.

Tổng toàn bộ tiền là 180.745.000đồng.

Luật sư của nguyên đơn trình bầy như nguyên đơn đã trình bầy và không chấp nhận các ý kiến của bị đơn trong các tài liệu mà Toà án đã công bố tại phiên toà.

Tại phiên toà, do bị đơn và bên liên quan vắng mặt. Toà án đã công bố toàn bộ lời khai và tài liệu do họ cung cấp.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.

Hội đồng xét xử nhận định:

1.1. Công ty TNHH Cầm Thắng và Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng là các pháp nhân hạch toán độc lập do cơ quan có thẩm quyền thành lập. Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng có giấy phép hành nghề xây dựng các công trình điện - trụ sở Công ty tại huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Ngày 15.7.2005, hai bên ký hợp đồng giao khoán về việc xây lắp "Nhánh rẽ đường dây và trạm biến áp 320KVA - 22/0,4KV". Chủ thể ký hợp đồng là các đại diện hợp pháp của 2 bên, phù hợp với quy định của pháp luật. Mục đích ký hợp đồng là thu được lợi nhuận về cho đơn vị thông qua hoạt động thầu - xây dựng.

Qúa trình thực hiện hợp đồng phát sinh tranh chấp, các bên không tự giải quyết được nên bên A đã khởi kiện bên B tại Toà án đề nghị được thanh lý hợp đồng.

Căn cứ điểm g khoản 1 điều 29 và điều 33, 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền.

1.2. Như đã nêu trên, quá trình thực hiện hợp đồng, các bên có mâu thuẫn, đến ngày 26.10.2005 bị đơn đã dừng thi công. Nguyên đơn có nhiều công văn gửi bị đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc cùng nhau thanh lý hợp đồng. Ngày 15.03.2006, nguyên đơn gửi công văn đề nghị bị đơn cùng nguyên đơn thanh lý hợp đồng chậm nhất ngày 20.3.2006 nhưng bị đơn không thực hiện. Ngày 16.5.2006, nguyên đơn có đơn khởi kiện bị đơn tại Toà án.

Căn cứ điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự, điều 110.3 Luật xây dựng, Toà án xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn nên chấp nhận để xem xét.

1.3. Hợp đồng được ký bởi các đại diện hợp pháp của các bên nên hợp đồng này là hợp pháp, có giá trị pháp lý đối với nguyên đơn và bị đơn.

2. Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải hoàn trả số tiền tạm ứng thi công 150.000.000đ, lãi chậm thanh toán số tiền này cùng với phạt 5% trị giá hợp đồng. Nhận thấy:

2.1. Ngày 15.7.2005, nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng giao khoán xây lắp số 12 HĐKT-XL. Theo hợp đồng bị đơn sẽ thi công "Nhánh rẽ đường dây và trạm biến áp 320KVA - 22/0,4KV" cho Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG tại lô 46 khu công nghiệp Nội Bài, Sóc Sơn là 1 phần trong hợp đồng thầu nguyên đơn đã nhận của Công ty KWANG YANG.

Nội dung xây lắp có 3 hạng mục nhỏ:

(1) Đấu nối tại cột số 2 lộ 475 Khu Công nghiệp Nội Bài.

(2) Tuyến cáp gồm 80m ngầm và 20m đấu nối.

(3) Trạm biến áp ngoài trời.

Thời gian thi công 35 ngày, tính từ ngày thứ 3 sau khi bị đơn nhận mặt bằng.

Trị giá hợp đồng là 275.000.000đ.

Bị đơn phải bảo hành trong 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao công trình.

Quá trình thi công bị đơn phải thi công đúng tiến độ, chất lượng, khối lượng theo hồ sơ thiết kế được duyệt, lập hồ sơ để nghiệm thu kỹ thuật và tự tổ chức kho bãi để bảo quản vật tư.

Kèm theo hợp đồng còn có các phụ lục. Theo các bên, đó là bản tổng hợp dự toán công trình, tổng hợp chi phí, nhân công, thiết bị xây lắp của từng hạng mục, bản cam kết tiến độ.

Căn cứ để nguyên đơn và bị đơn ký hợp đồng này, ngoài các quy định của pháp luật, còn dựa trên cơ sở hợp đồng giao thầu giữa nguyên đơn và Công ty TNHH công nghiệp KWANG YANG.

2.2. Xét đây là hợp đồng thi công công trình và là công trình truyền tải cấp điện. Do đó ngoài việc tuân thủ các quy định về xây dựng công trình nói chung, còn phải tuân thủ các quy định của ngành điện như giấy phép đặt cáp ngầm, giấy phép đấu nối điện, biên bản kiểm tra kỹ thuật và thí nghiệm thiết bị được lắp đặt vào công trình.

2.3. Về quá trình thực hiện hợp đồng:

2.3.1. Theo hợp đồng quy định, nguyên đơn phải tạm ứng cho bị đơn số tiền 150triệu đồng. Sau khi ký hợp đồng, nguyên đơn đã tạm ứng đủ 150triệu đồng cho bị đơn vào ngày 17.7 (50 triệu đồng) và 28.10 là 100triệu đồng. Thể hiện trên phiếu thu số 8310 ngày 28.10.2005 do bị đơn cấp cho nguyên đơn. Như vậy nguyên đơn đã thực hiện đúng hợp đồng.

2.3.2. Cũng theo các bên công nhận, đến ngày 07.9.2005 bị đơn bắt đầu thực hiện thi công các công việc trong hợp đồng. Đó cũng chính là ngày bị đơn nhận mặt bằng và việc giao nhận mặt bằng này không có biên bản mà chỉ giao miệng. Theo nguyên đơn cung cấp nhật ký công trình bị đơn cũng công nhận ngày bàn giao mặt bằng và bị đơn thi công là 07.9.2005.

Tại bản cam kết ngày 30.8.2005 bị đơn cam kết sẽ thi công các hạng mục của hợp đồng trong thời hạn 07 ngày, từ ngày 07.9 đến ngày 14.9.2005. Nhưng trên thực tế như bị đơn đã công nhận, tính đến ngày 26.10.2005, bị đơn chưa thực hiện được hạng mục (1) và (2) của hợp đồng, còn hạng mục (3) vì vậy cũng chưa thực hiện xong. Bị đơn trình bày do nguyên đơn giao mặt bằng chậm. Nhưng theo tài liệu hồ sơ thể hiện như nêu trên, ngày 07.9.2005 bị đơn nhận mặt bằng và tiến hành thi công; chính bị đơn cam kết thời gian thi công từ 07.9.2005 đến 14.9.2005. Do đó lời nại trên của bị đơn không thể chấp nhận được. Ngoài ra bị đơn không có tài liệu nào khác để biện hộ cho sự chậm trễ của mình.

2.3.3. Quá trình thi công, ngày 26.10.2005 bị đơn rút khỏi công trình, dừng thi công. Việc dừng thi công hai bên không có biên bản, bị đơn cũng không có bất cứ 1 văn bản nào thông báo cho nguyên đơn về việc dừng thi công, cũng như lý do của việc không tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Không những vậy, như các bên đều xác nhận kể từ khi bị đơn bắt đầu thi công 07.9.2005 cho đến khi bị đơn dừng thi công 26.10.2005, hai bên không có biên bản nào xác nhận với nhau về khối lượng thi công đã thực hiện theo từng phần việc như làm móng, làm cột, dựng xà, lắp thiết bị, lắp máy… Và cũng không có biên bản xác nhận khối lượng công việc mà bị đơn đã thi công.

Theo bị đơn, bị đơn đã thực hiện xong trạm biến áp với giá trị xây lắp tương đương 150triệu đồng như bị đơn đã xác định tại hoá đơn số 8310 ngày 16.11.2005 cấp cho nguyên đơn. Giá trị này tương đương số tiền nguyên đơn đã tạm ứng. Còn về khối lượng cụ thể như công ty KWANG YANG đã xác nhận cho nguyên đơn tại biên bản 01.11.2005 mà bị đơn có biết nhưng không được tham gia.

Về vấn đề khối lượng, thấy rằng việc các bên không có biên bản xác nhận khối lượng theo tiến độ cũng như biên bản xác nhận khối lượng đã thi công đến thời điểm dừng hợp đồng như vậy là không phù hợp với quy định của pháp luật. Phía nguyên đơn đã yêu cầu nhưng bị đơn không thực hiện. Mặt khác, lẽ ra để bảo vệ quyền lợi của mình, bị đơn phải yêu cầu nguyên đơn cùng xác nhận khối lượng công việc với mình, sau khi không được tham gia với nguyên đơn và chủ đầu tư của nguyên đơn - Công ty KWANG YANG. Nhưng bị đơn cũng bỏ mặc. Như vậy lỗi thuộc về bị đơn và bị đơn phải chịu trách nhiệm về việc không chứng minh được khối lượng công việc mình đã thực hiện.

Tại bản xác nhận hiện trạng 01.11.2005 giữa đại diện Công ty KWANG YANG và nguyên đơn, Công ty KWANG YANG xác nhận tính đến 26.10.2005 là ngày bị đơn không thi công nữa, nguyên đơn đã thực hiện được ở hạng mục trạm biến áp gồm 2 cột bê tông ly tâm, đủ xà, sứ cách điện, ghế thao tác, cầu dao và có 1 máy biến áp. Máy biến áp này, theo sự tái xác nhận của Công ty KWANG YANG ngày 18.8.2006 thì máy không có hồ sơ kỹ thuật, không có giấy tờ gì. Đây chính là khối lượng công việc mà bị đơn đã thực hiện.

2.4. Về giá trị thi công.

2.4.1. Quá trình Toà án giải quyết vụ kiện ngày 31.7.2006 bị đơn có cung cấp bản tổng hợp khối lượng thi công với trị giá 163.195.000đồng. Tài liệu này không có xác nhận của nguyên đơn. Mặt khác, bị đơn lại trình bầy bị đơn đã thi công được khối lượng công việc có giá trị như nguyên đơn đã tạm ứng là 150triệu đồng. Do đó tài liệu này không có cơ sở pháp lý cũng như bị đơn không lý giải cụ thể được về số tiền 150.000.000 đồng đã chi như thế nào, mà chỉ nại rằng nguyên đơn không có ý kiến gì khi bị đơn xuất hoá đơn VAT cho số tiền 150 triệu đồng vào ngày 16.11.2005 nguyên đơn không thắc mắc gì. Thì hoá đơn này có nội dung không phù hợp với phiếu thu tiền do bị đơn phát hành 28.10.2005 có ghi thu tiền "Tạm ứng thực hiện hợp đồng". Hơn nữa, việc thanh toán khối lượng thi công dang dở (đây là bị đơn dừng thi công) chỉ là tạm tính - theo quy định của pháp luật vì còn phụ thuộc nghiệm thu hoàn công. Do đó, Toà án không chấp nhận quan điểm của bị đơn trình bầy đã thi công được khối lượng có giá trị 150 triệu đồng.

2.4.2. Xét thấy trong vụ kiện này, hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn được hình thành trên cơ sở nguyên đơn ký hợp đồng số KYP621/HĐ-XD ngày 21.6.2005 với công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG về việc thi công xây dựng công trình. Trong đó có phần nguyên đơn thi công trạm biến áp (đ 8.3 HĐ621).

Ngày 27.10.2005, nguyên đơn và công ty TNHH công nghiệp KWANG YANG ký thoả thuận chấm dứt hợp đồng và ngày 01.11.2005 đại diện Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG và nguyên đơn ký biên bản xác nhận hiện trạng về khối lượng thi công mà nguyên đơn (thực chất là bị đơn) đã thi công tại công trình của Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG. Ngày 18.8.2006 Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG có văn bản xác nhận lại khối lượng thi công như đã nêu tại biên bản ngày 01.11.2005.

Theo biên bản thoả thuận chấm dứt hợp đồng, tại phần "Bảng liệt kê các chi phí" ở mục 5 có ghi "Công việc AC chính 275.000.000đồng - Hợp đồng với nhà thầu phụ (có đề cập trong hợp đồng)"; Và tại phần "Kế hoạch thanh toán", tại mục 2 có ghi "Thanh toán trạm biến áp và điện cao thế - 250 triệu đồng - thanh toán sau khi cấp điện và có hoá đơn VAT". Tuy nhiên thực tế thì kể từ sau ngày 01.11.2006 nguyên đơn không thi công tiếp, cũng có nghĩa là bị đơn không thực hiện tiếp hợp đồng với nguyên đơn nữa. Cũng theo bản thoả thuận chấm dứt hợp đồng thể hiện ở hạng mục xây lắp trạm biến áp thì nguyên đơn chỉ được chủ đầu tư trả 25.000.000đồng với khối lượng đã thi công gồm 2 cột bê tông ly tâm; hệ thống xà, sứ cách điện; ghế thao tác; cầu dao; 01 máy biến áp (không có giấy tờ gì).

2.4.3. Từ phần tích đã nêu trên, Toà án thấy cần xác định Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG là bên có liên quan trong vụ kiện và các tài liệu hình thành giữa nguyên đơn và bên liên quan sẽ là căn cứ xác định khối lượng cũng như giá trị thi công mà bị đơn đã thực hiện theo hợp đồng số 12/ HĐKT-XL đã ký với nguyên đơn.

Theo đó, khối lượng bị đơn đã thi công được xác định như đã nêu tại biên bản xác nhận hiện trạng 01.11.2005. Còn giá trị đã thi công là 25.000.000 đồng. Do đó, Toà án thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi tiền đã tạm ứng thi công. Tuy nhiên, chỉ chấp nhận việc bị đơn hoàn trả lại 125.000.000đồng.

2.5. Như đã phân tích, lỗi không hoàn thành công trình theo hợp đồng đã ký hoàn toàn thuộc về phía bị đơn, do dó bị đơn phải chịu trách nhiệm đối với yêu cầu đòi tiền phạt cũng như tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu.

2.5.1. Về yêu cầu đòi tiền phạt 5% trị giá hợp đồng của nguyên đơn. Như đã phân tích trên, mặc dù tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn không thừa nhận bị đơn đã thi công được trị giá công trình là 25.000.000đồng. Nhưng tài liệu có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định khối lượng thi công của bị đơn có trị giá 25.000.000đ như Toà án đã phân tích trên. Giá trị thi công này sẽ được đối trừ với trị giá hợp đồng. Số tiền còn lại 250.000.000đ (275.000.000đ - 25.000.000đ) chính là giá trị hợp đồng bị vi phạm để tính phạt.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu phạt 5% là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, cần chấp nhận. Cụ thể tiền phạt là 250.000.000 x 5% = 12.500.000đ.

2.5.2. Về tiền lãi số tiền đã ứng: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu lãi của số tiền đã ứng là 150.000.000đ. Nhưng bị đơn đã thi công được trị giá 25.000.000đ. Nên số tiền để tính lãi sẽ chỉ được chấp nhận là 125.000.000đ (150.000.000đ - 25.000.000đ).

Nguyên đơn yêu cầu được tính lãi theo lãi suất 1,1%/tháng trong 13 tháng với số tiền cụ thể là 16.995.000đồng. Như vậy có thấp hơn mức lãi suất tín dụng quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định, cần chấp nhận.

2.6. Từ phân tích trên thấy cần buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán trả nguyên đơn tiền tạm ứng thực hiện hợp đồng còn thừa là 125.000.000đ, phạt vi phạm hợp đồng 12.500.000đ, lãi chậm trả của số tiền tạm ứng còn thừa là 16.995.000đ.

Cộng ba khoản là 154.495.000đ. Số tiền này sẽ tiếp tục được tính lãi theo quy định tại thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19.6.1997 của Toà án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp khi nguyên đơn có yêu cầu thi hành án.

3. Quá trình Toà án giải quyết vụ kiện, bị đơn có trình bầy đã chi phí để lập hồ sơ thiết kế và xin các loại giấy phép cần thiết có liên quan và đã được nguyên đơn chấp nhận 4.876.000đ. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn không đồng ý trừ cho bị đơn khoản này với lý do bị đơn không thiện chí và số liệu đó không có chứng từ và với hồ sơ này, nguyên đơn không thể đưa ra sử dụng cho bất kỳ công trình nào khác. Toà án chấp nhận quan điểm này của nguyên đơn.

4. Các lời trình bầy của bị đơn đề nghị Toà án công nhận bị đơn đã thi công được khối lượng công trình có trị giá 150.000.000đ. Nhưng các tài liệu bị đơn đưa ra không có căn cứ pháp lý để xác định lời trình bầy của bị đơn là đúng. Cụ thể bản tổng hợp khối lượng thi công chỉ do phía bị đơn lập, chưa được gửi cho nguyên đơn và không phù hợp biên bản xác nhận hiện trạng 01.11.2005. Các hoá đơn vật tư được lập sau ngày bị đơn dừng thi công, phiếu xuất kho vật tư không phải là chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. Ngay cả hoá đơn 8310 ngày 16.11.2005 của bị đơn phát hành cũng không phù hợp với phiếu thu tiền như đã nêu trên.

Do đó lời trình bày của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.

5. Về lời trình bày của Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG và các tài liệu do họ xuất trình. Các tài liệu này là có căn cứ và đúng với thực tế khách quan về việc thực hiện hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn. Bản thân bị đơn cũng đã công nhận biên bản 01.11.2005 mà bên liên quan đã xác nhận cho nguyên đơn chính là xác nhận cho bị đơn.

6. Đề nghị của luật sư nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận nhưng với số liệu cụ thể mà Toà án đã phân tích trên.

7. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

7.1. Bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền là 154.495.000đ. Họ phải chịu án phí số tiền này theo quy định tại điều 15, 19 nghị định 70NĐ/CP cụ thể mức án phí là 7.175.000đ.

7.2. Nguyên đơn yêu cầu tổng số tiền 180.745.000đ nhưng chỉ được chấp nhận 154.495.000đ. Do vậy phải chịu án phí của số tiền 26.250.000đ không được chấp nhận là 1.300.000đ. Số tiền này sẽ được đối trừ 3.500.000đ dự phí nguyên đơn đã nộp tại biên lai số 7836 ngày 16.6.2006 của cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Nguyên đơn được hoàn lại tiền thừa 2.200.000đ.

Vì lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm g khoản 1 điều 29, điểm b khoản 1 điều 33, điểm a khoản 1 điều 34, điều 131, 200, 201 và 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ điều 76, 110 Luật xây dựng.

- Căn cứ điều 15, 19 Nghị định 70NĐ/CP ngày 12.6.1997 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19.6.1997 của Toà án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Tài chính - Bộ tư pháp.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty TNHH Cầm Thắng đối với Công ty cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng.

2. Buộc Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng thanh toán cho công ty TNHH Cầm Thắng các khoản:

- Tiền tạm ứng theo hợp đồng số 12/HĐKT-XL ngày 15.7.2005 và phụ lục kèm theo là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng).

- Tiền phạt do công ty cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng vi phạm hợp đồng số 12/HĐKT-XL ngày 15.7.2005 và các phụ lục kèm theo là 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).

- 16.995.000đồng tiền lãi của số tiền tạm ứng 125.000.000đ theo hợp đồng 12/HĐKT-XL ngày 15.7.2005.

Tổng cộng: 154.495.000đ (Một trăm năm mươi tư triệu bốn trăm chín mươi làm ngàn đồng)

3. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

4. Án phí:

Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực và hạ tầng chịu 7.175.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Công ty TNHH Cầm Thắng chịu 1.300.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Được trừ vào dự phí đã nộp tại biên lai số 7386 ngày 16.6.2006 của thi hành án Hà Nội. Được hoàn lại 2.200.000đ.

Kể từ khi nguyên đơn có yêu cầu thi hành án mà bị đơn chưa trả tiền thì phải chịu lãi theo lãi suất tín dụng quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định đến khi trả hết tiền.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư điện lực hạ tầng và Công ty TNHH Công nghiệp KWANG YANG có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


207
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2007/KDTM-ST ngày 25/01/2007 về tranh chấp hợp đồng xây dựng

Số hiệu:07/2007/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:25/01/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về