Bản án 07/2018/HNGĐ-PT ngày 17/09/2018 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-PT NGÀY 17/09/2018 VỀ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 08/2018/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018; do có kháng cáo của bị đơn anh Hoàng Trọng Hùng đối với bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân H, tỉnh Hà Tĩnh; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXX-PT ngày 04/9/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị O; địa chỉ: Xóm Đ, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Hoàng Trọng H; địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân H, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

- Nguyên đơn chị Trần Thị O trình bày: Chị và anh Hoàng Trọng H thuận tình ly hôn, được Tòa án nhân dân H công nhận theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 93/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 29/9/2017. Về con chung chị O và anh H có một con chung là Hoàng Trần Hải B, sinh ngày 04/11/2015. Theo đó, anh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Trần Hải B đến tuổi trưởng thành và tiền cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị O được quyền thăm non con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, sau khi ly hôn đến nay chị O cho rằng quyền thăm non con chung của chị O bị anh H và gia đình của anh H hạn chế, cản trở. Nhiều lần chị O đến thăm gặp con, đặc biệt những hôm con ốm đau chị O muốn được ở lại với con lâu hơn thì cũng bị anh H hạn chế về thời gian thăm con, còn những ngày lễ, tết muốn đón con về chơi nhưng anh H không cho mà còn xúc phạm chị và gia đình ngoại, thậm chí có lần anh H còn đánh đập chị. Việc này, đã được chị trình báo chính quyền địa phương và hàng xóm anh H cũng biết. Từ khi ly hôn lại nay các quyền lợi của con cũng không được đảm bảo. Anh H không có thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng con mà phần lớn là nhờ vào sự hỗ trợ của ông bà nội (bố, mẹ anh H). Bản thân anh H nghề nghiệp không ổn định, thu nhập bấp bênh, hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Khi ly hôn chị phải giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là vì khi vợ chồng sống với nhau không còn tình cảm. Tôi muốn được ly hôn nhưng anh H gây khó khăn. Hơn nữa, anh H còn đe dọa nếu tôi nuôi con thì anh sẽ từ mặt con, coi như anh chưa có con, điều đó buộc tôi phải giao con cho anh H nuôi để khỏi gây thiệt thòi cho con về mặt tinh thần và quyền lợi .

Hiện nay, con còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, cần phải có sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ. Bản thân tôi có công việc, thu nhập và chổ ở ổn định, đảm bảo các điều kiện để nuôi con. Vì vậy, chị O đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn từ người trực tiếp nuôi con là anh H sang cho chị là người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con Hoàng Trần Hải B. Chị O không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và anh H có quyền đi lại thăm nom con không được ai cản trở.

- Bị đơn Anh Hoàng Trọng H trình bày: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 93/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, thì anh H là người được quyền trực tiếp, nuôi dưỡng, giáo dục con. Kể từ khi ly hôn cho đến nay, anh H luôn thực hiện tốt các điều kiện về nuôi con, hiện con phát triển tốt về mọi mặt, đang được gia đình tôi cho học tại trường Mầm non Trí Đức, đây là ngôi trường có các điều kiện học tập tốt bậc nhất tại thành phố Hà Tĩnh. Việc chị O trình bày là anh H hạn chế, cản trở quyền thăm nom con chung của chị O là không có. Tôi chỉ không cho chị O đưa con về ngoại chơi và hạn chế thời gian mỗi lần chị O đến gặp con. Còn việc chị O cho rằng khi ly hôn chị O xin được nuôi con thì bản thân tôi có nói là nếu chị O nuôi con thì tôi coi như chưa có đứa con trên là đúng. Sở dĩ tôi làm vậy là vì, nếu chị O nuôi con hoặc con gần mẹ nhiều sẽ học các tật xấu của mẹ. Bản thân tôi hiện nay có việc làm ổn định là công nhân của công ty CP thiết bị PCCC Sơn Hà, có mức lương tháng 7.000.000đ, ngoài ra còn các khoản thu nhập khác, đảm việc nuôi dạy con ăn học đầy đủ. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án giữ nguyên quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con như quyết định trên của Tòa án.

Với nội dung vụ án trên, ngày 26/6/2018, Tòa án nhân dân H, tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra xét xử: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1 khoản 1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị O về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Buộc anh Hoàng Trọng H có nghĩa vụ giao cháu Hoàng Trần Hải B, sinh ngày 04/11/2015 cho chị Trần Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Trọng H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Trọng H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/7/2018 bị đơn anh Hoàng Trọng H làm đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trao trả lại quyền nuôi con cho anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh sau khi nhận xét về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các bên đương sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

{1} Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

Đơn kháng cáo của bị đơn anh Hoàng Trọng H làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

{2} Về nội dung kháng cáo bị đơn anh Hoàng Trọng H, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi có quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân H về việc Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự giữa chị O và anh H, về con chung: Chị O và anh H thống nhất giao con chung Hoàng Trần Hải B cho anh Hoàng Trọng H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con đến tuổi trưởng thành, hai bên tự thỏa thuận với nhau về việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai cản trở. Tuy nhiên từ sau khi ly hôn đến nay anh H cũng thừa nhận việc chị O thường xuyên bị hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung, chị không được đưa đón con nhiều lúc dẫn đến sự xô xát, cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể Tổ dân phố 2 đã trực tiếp đến gặp gia đình anh Hùng để khuyên giải nhưng không có kết quả và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền lợi của trẻ em và phụ nữ. Hành vi cản trở, hạn chế quyền thăm con của anh H đã vi phạm vào khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, không thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận về việc nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định số 93/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân H.

Mặt khác, cháu Hoàng Trần Hải B, sinh ngày 04/11/2015 hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người người phụ nữ, người mẹ, anh H công việc nay đây mai đó, không có nhiều thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng con, từ học hành, ăn uống và các hoạt động sinh hoạt của con phần lớn đều nhờ vào ông bà (bố mẹ anh H) nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O, giao cháu Hoàng Trần Hải B cho chị Trần Thị O trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp, có căn cứ nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Trọng H.

Về án phí: Bị đơn anh Hoàng Trọng H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

1. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn anh Hoàng Trọng H, giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2018/HNGĐ-ST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân H, tỉnh Hà Tĩnh.

2. Căn cứ điều 81, điều 82, điều 83 và điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;khoản 3 điều 28, điều 35, điều 39, điều 147của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, điểm 1.1 khoản 1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị O về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

Buộc anh Hoàng Trọng H có nghĩa vụ giao cháu Hoàng Trần Hải B, sinh ngày 04/11/2015 cho chị Trần Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Trọng H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Trọng H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết các đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí, lệ phí:

- Về án phí sơ thẩm: Anh Hoàng Trọng H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Trả lại cho chị Trần Thị O số tiền 300.000đ, tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0000949 ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBNTQH buộc Anh Hoàng Trọng H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh theo Biên lai số 0000991 ngày 09/7/2018.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


56
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về