Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 14/08/2018 về ly hôn giữa chị H và anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/08/2018 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ H VÀ ANH T

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24/7/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1993; có mặt.

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Đội 7, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam.

2. Bị đơn: Anh Trần Hữu T, sinh năm 1993; vắng mặt không có lý do.

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Đội 11, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Trần Hữu T tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam vào ngày 13/6/2013, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Đến tháng 01/2015 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thường xuyên chơi bời rượu chè, cờ bạc thâu đêm suốt sáng, không chịu lao động cũng không quan tâm gì vợ con, kinh tế gia đình rất khó khăn; ngoài ra chị còn nghi ngờ anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, chị và hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không nghe mà còn đánh chị, vợ chồng thường xuyên va chạm, mâu thuẫn đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, do không thể chịu đựng được nữa nên tháng 01/2016 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: Chị Trần Thị H xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hữu Nam D, sinh ngày 28/7/2012 và cháu Trần Hữu Bảo N, sinh ngày 26/01/2016, hiện cháu Bảo N đang do chị nuôi dưỡng, cháu Nam D do anh T nuôi dưỡng. Ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi cháu Bảo N, để anh T nuôi cháu Nam D, không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, công sức, trợ cấp khó khăn sau ly hôn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Chị Trần Thị H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/5/2018 và tại phiên hòa giải ngày 13/6/2018 bị đơn anh Trần Hữu T trình bày:

Về hôn nhân: Anh nhất trí như lời trình bày của chị Trần Thị H về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, chị H có khuyên bảo nhưng anh không nghe; ngoài ra chị H còn mâu thuẫn với bố mẹ đẻ anh, vợ chồng thường xuyên va chạm, đánh cãi chửi nhau. Đến tháng 5/2016 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh có đến tìm nhưng chị không về chung sống cùng anh nữa, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn, anh xin đoàn tụ.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Hữu Nam D, sinh ngày 28/7/2012 và cháu Trần Hữu Bảo N, sinh ngày 26/01/2016, hiện cháu Bảo N đang do chị Hảo nuôi dưỡng, cháu Nam D do anh nuôi dưỡng. Ly hôn, anh xin được tiếp tục nuôi cháu Nam D, để chị Hảo nuôi cháu Bảo N, không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, công sức, trợ cấp khó khăn sau ly hôn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Anh Trần Hữu T không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Không vi phạm; Đối với người tham gia tố tụng: Chị Trần Thị H đã chấp hành và thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Trần Hữu T chưa chấp hành và thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhiều lần không chấp hành giấy triệu tập cũng không ký vào các văn bản tố tụng của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Hữu T; Về con chung: Giao cho chị Trần Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Hữu Bảo N, sinh ngày 26/01/2016; Giao cho anh Trần Hữu T nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Hữu Nam D, sinh ngày 28/7/2012, hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nhận định:

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H xin ly hôn anh Trần Hữu T, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh T có hộ khẩu thường trú và cư trú tại đội 11, xã Bồ Đề, huyện B, tỉnh Hà Nam nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Trần Hữu T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/6/2013 tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không có sự tin tưởng nhau, chị H và hai bên gia đình đã khuyên bảo nhưng anh T không nghe, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, đánh chửi nhau, mâu thuẫn ngày càng nặng nề, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2016. Mặc dù anh T xin đoàn tụ nhưng anh cũng không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ của vợ chồng, tại biên bản hòa giải ngày 13/6/2018 và tại biên bản lấy lời khai anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, vào đầu năm 2017 anh có gặp chị H để yêu cầu chị H ly hôn nhưng chị H không đồng ý nên giờ anh không thể đồng ý ly hôn dễ dàng được. Tại biên bản làm việc giữa Tòa án với chính quyền địa phương xã B thì địa phương có quan điểm mâu thuẫn của vợ chồng anh chị kéo dài, thời gian sống ly thân đã lâu, việc về đoàn tụ là khó, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn theo quy định. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án anh T nhiều lần không chấp hành giấy triệu tập, không nhận cũng không ký vào văn bản tố tụng của Tòa án. Do anh T vắng mặt không có lý do nên ngày 04/7/2018, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không tiến hành hòa giải được, xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc anh T xin đoàn tụ là không thiện chí, chỉ là gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án mà thôi. Do vậy, cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Chị Trần Thị H và anh Trần Hữu T có 02 con chung là cháu Trần Hữu Nam D, sinh ngày 28/7/2012 và cháu Trần Hữu Bảo N, sinh ngày 26/01/2016. Lý do cháu D sinh ngày 28/7/2012 nhưng đến ngày 13/6/2013 anh chị mới đăng ký kết hôn là do anh chị yêu thương nhau và đã mang thai cháu D, khi đó anh chị chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn nên hai bên gia đình chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục, khi anh chị đủ tuổi mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã B, anh chị thống nhất cháu Trần Hữu Nam D là con chung của vợ chồng. Tại bản tự khai cũng như tại phiên hòa giải ngày 13/6/2018 anh chị thống nhất giao chị H nuôi dưỡng cháu Bảo N, giao anh T nuôi dưỡng cháu Nam D, hai bên không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại lời khai và tại phiên tòa chị H xác định chị đang làm công nhân tại công ty SAMKYOUNG VINA, địa chỉ: KCN, huyện D, tỉnh Hà Nam với mức lương là 4.310.000đ/tháng, chị đang ở nhà bố mẹ đẻ tại đội 7, xã Ngọc Lũ, huyện B. Tại lời khai anh T xác định hiện anh đang làm nghề cắt tóc ở địa phương, thu nhập khoảng 5.000.000đ/tháng và anh có chỗ ở ổn định tại Đội 11, xã B. Xét thấy, kể từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân đến nay thì cháu D ở với anh T, cháu N ở với chị H, các cháu đều được chăm sóc chu đáo, phát triển bình thường, có sức khỏe tốt, bên cạnh đó anh chị đều có nơi ăn, ở và có công việc, thu nhập ổn định, do vậy cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị giao cháu Bảo N cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Nam D cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, anh chị không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ, công sức, trợ cấp khó khăn sau ly hôn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Ly hôn anh chị đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 26, điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Hữu T.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị H được quyền nuôi dưỡng cháu Trần Hữu Bảo N, sinh ngày 26/01/2016; Giao cho anh Trần Hữu T được quyền nuôi dưỡng cháu Trần Hữu Nam D, sinh ngày 28/7/2012. Chị H và anh T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị H, anh T cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với cháu D và cháu N; Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà chị H đã nộp tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Lục theo biên lai số AA/2015/0001119 ngày 28/5/2018 thành án phí ly hôn sơ thẩm mà chị phải nộp (chị H đã thi hành xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm).

Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Trần Hữu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 14/08/2018 về ly hôn giữa chị H và anh T

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Lục - Hà Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về